Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-PT

Ngày 30 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Minh.

Các Thẩm phán: Bà Tòng Thị Hiền, bà Lại Thị Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 37/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo Tòng Văn D. Do có kháng cáo của bị cáo Tòng Văn D đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 02/2025/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXPT-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 25/2025/HSPT-QĐ ngày 25 tháng 9 năm 2025.

- Bị cáo có kháng cáo:

Tòng Văn D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16/6/2008 tại huyện M, tỉnh Sơn La (Thời điểm phạm tội bị cáo 16 tuổi 9 tháng 10 ngày); Nơi ĐKHKTT: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (Nay là: Bản T, xã C, tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn N (đã chết) và bà Tòng Thị L, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ kể từ ngày 29/3/2025 đến ngày 06/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Tòng Văn N, bà Tòng Thị L (là bố, mẹ đẻ của bị cáo). Địa chỉ: Bản T, xã C, tỉnh Sơn La. Người đại diện theo uỷ quyền: Chị Tòng Thị Đ (chị gái của bị cáo). Địa chỉ: Bản L, xã C, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lường Ngọc C1 - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh S. Có mặt.

- Bị hại không kháng cáo:

  • + Tòng Văn Đ1, sinh năm 2008. Địa chỉ: Bản T, xã C, tỉnh Sơn La. Đại diện hợp pháp: Ông Tòng Văn T, bà Hà Thị P. Địa chỉ: Bản T, xã C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
  • + Cà Thị Thanh B, sinh năm 2004. Địa chỉ: Bản L, xã C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ hơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Tối ngày 26/3/2025, trên đường từ quán B2 thuộc bản P, xã C, huyện M về nhà, Tòng Văn D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã rủ Tòng Thanh T1 (sinh ngày 28/3/2010) cùng đi trộm cắp để có tiền chi tiêu cá nhân, T1 đồng ý. T1 nói với D gia đình Tòng Văn Đ1 (sinh năm 2008, trú tại bản T, xã C, huyện M) có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ có thể trộm cắp được. D đồng ý rồi cùng T1 về nhà D ngủ. Đến khoảng 04 giờ sáng cùng ngày, T1 thức dậy đi ra khu vực bờ rào nhà D bẻ lấy một đoạn thép 1 ly từ cuộn dây thép đang treo ở trên bờ rào cất vào túi quần phía sau bên phải rồi đi vào nhà gọi D dậy đi trộm cắp xe mô tô của gia đình Đ1. Duyên dậy lấy 01 chiếc áo mưa (loại có mũ) màu xanh đen ở trong nhà đưa cho T1 mặc nhằm mục đích tránh việc T1 bị mọi người phát hiện. Sau đó, D và T1 đi bộ sang nhà Tòng Văn Đ1 (cách nhà D khoảng 500m) để trộm cắp xe mô tô. Khi đến nhà Đ1, thấy cả nhà Đ1 đang ngủ, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ, không có cánh yếm chắn gió hai bên, biển kiểm soát 26AD-059.78 để ở sân, đầu xe hướng vào bên trong nhà. D và T1 cùng nhau kéo cổng (làm bằng thép B40) nhà Đ1 sang một bên, D đứng ngoài cổng cảnh giới, còn T1 đi vào sân dắt xe mô tô ra ngoài. Khi T1 và D dắt xe mô tô đi được khoảng 200m thì dừng lại, T1 rút giắc điện ở đầu xe ra rồi dùng thép 1 ly để đấu nối điện nổ máy xe mô tô. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô chở D đến khu vực Chùa T5 thuộc Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La và cả hai cùng ngủ ngoài ghế đá ở sân Chùa. Khoảng 06 giờ sáng cùng ngày, D và T1 thức dậy rồi điều khiển xe mô tô trộm cắp được đi tìm chỗ cầm cố để lấy tiền nhưng do xe không có giấy tờ nên không cầm cố được. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, D và T1 đi đến quán điện tử ở thôn N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La chơi điện tử đến 13 giờ cùng ngày.

Vụ thứ hai: Sau khi chơi điện tử xong, T1 rủ D tiếp tục đi tìm xe mô tô khác trộm cắp để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân và chơi điện tử. D đồng ý rồi điều khiển xe mô tô trộm cắp được của gia đình Đ1 chở T1 đi tìm nơi có sơ hở để trộm cắp xe mô tô. Khi đi đến bản C, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La thì xe hết xăng, T1 tháo chốt cốp xe phía trước yên xe ra lấy cờ lê trong cốp rồi tháo biển kiểm soát 26AD-059.78 của xe ra. Tháo xong, T1 và D dắt xe đi vào Cửa hàng X2 gặp Bùi Thị Q, sinh năm 1991, trú tại bản Mún Đ, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La là nhân viên bán xăng, đặt vấn đề gửi lại chiếc biển kiểm soát 26AD-059.78 cho Q để làm tin mua nợ 50.000 VNĐ tiền xăng, Q đồng ý và bán 50.000 VNĐ

xăng cho D và T1. D và T1 tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến khu vực bản L, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La thì nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, bạc, biển kiểm soát 26K1-249.65 của Cà Thị Thanh B, sinh năm 2004, trú tại bản Lằm Cút, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La đang dựng ở lề đường phía bên phải (theo hướng bản Bon, xã M đi bản C, xã M), chìa khoá vẫn cắm ở ổ khoá điện. D điều khiển xe mô tô chở T1 tiếp tục đi qua vị trí dựng chiếc xe mô tô khoảng 20m để quan sát. Sau khi xác định không có người ở xung quanh, D điều khiển xe mô tô quay lại vị trí dựng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26K1-249.65, T1 xuống xe còn D điều khiển mô tô trộm cắp được của Đ1 đi trước. T1 tiến đến vị trí dựng chiếc xe biển kiểm soát 26K1-249.65 của B, mở khoá điện rồi điều khiển xe đi theo D về xã C, huyện M. Khi đi đến khu vực thuộc bản N, xã C, huyện M, D và T1 dừng lại. Duyên bảo Toàn tháo biển kiểm soát của chiếc xe mô tô mới trộm cắp được của B nhằm mục đích trốn tránh sự phát hiện, truy tìm của mọi người, T1 mở cốp xe mô tô của Đ1 lấy kìm tháo biển kiểm soát xe 26K1-249.65 ra rồi cất vào trong cốp chiếc xe mô tô của B. Lúc này, T1 lấy từ trong cốp xe ra 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Cà Thị Thanh B đưa cho D, D xem xong rồi để lại vào trong cốp chiếc xe mô tô vừa trộm được của B.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, D và T1 mỗi người điều khiến một xe đến Cửa hàng kinh doanh mua, bán ô tô, xe máy của Nguyễn Văn T2, sinh năm 1988, trú tại thôn F, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La để bán chiếc xe mô tô của B nhưng T2 không ở nhà. D bảo Toàn ở lại gần đó đợi, còn D điều khiển chiếc xe mô tô Honda Wave trộm cắp được của B đi về hướng ngã tư D để tìm T2. Khi gặp được T2, T2 bảo D về nhà T2 đợi, D điều khiển xe quay về nhà T2. Khi đi qua quán Đ2 thuộc tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La thì D gặp Tòng Văn T3 và Tòng Văn B1, đều sinh năm 2008, cùng trú tại tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La (là người quen của D) đang đứng ở trước cửa quán điện tử rủ D vào chơi điện tử nhưng D không đáp lại mà điều khiển xe mô tô đi về chỗ T1 đang đợi. Do chiếc xe mô tô trộm được của gia đình Đ1 không có giấy tờ nên không cầm cố được nên D bảo Toàn mang xe về trả cho gia đình Đ1 rồi D và T1 đi đến quán anh T2 cùng chơi điện tử với T3 và B1. Khoảng 10 phút sau, T1 điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ, không có yếm chắn gió hai bên về trả lại cho gia đình Đ1. Khi đi đến khu vực đầu đường đôi thành phố S thì xe hết xăng, T1 dắt xe mô tô về đến Quán B2 thì gặp mẹ T1 là Cà Thị X, sinh năm 1989, trú tại bản Thống Nhất, xã C, huyện M, đang đi tìm T1 nên T1 đã để xe mô tô lại rồi bỏ trốn vào vườn cà phê gần đó. Nhận ra chiếc xe mô tô mà gia đình Đ1 bị mất trộm, X đã dắt chiếc xe mô tô mà T1 bỏ lại mang về trả lại cho gia đình Đ1. Sau khi thấy X dắt xe mô tô của Đ1 đi về thì T1 mới quay lại quán B2 chơi. D, B1 và T3 chơi điện tử được khoảng 30 phút, do tài khoản game hết tiển và đang nợ tiền quán điện tử nên B1 nói với D “đi cắm xe cho anh mượn triệu rưỡi", D nói “em cũng đang định cắm”, T3 nói “mang đi cắm đi”, D đồng ý rồi T3 và B1 mượn một chiếc xe máy điện của một người cũng đang chơi điện tử ở đó để dẫn D đi cầm cố xe mô tô trộm cắp được của B.

Khi thấy xe mô tô của D không có biển kiểm soát, T3 hỏi “Xe của ai đấy

sao mày tháo biển thế", D nói dối là “Đây là xe của chị em, biển để trong cốp", T3 bảo D lắp biển kiểm soát xe mô tô vào. Sau khi lắp biển kiểm soát xong, D điều khiển chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 26K1-249.65, còn T3 điều khiển chiếc xe máy điện chở B1 đi đến cửa hàng mua bán xe của T2. Đến nơi, T3 đặt vấn đề cầm cố chiếc xe mô tô với T2, T2 hỏi D về giấy tờ xe thì D lấy Giấy đăng ký xe mô tô của Cà Thị Thanh B từ trong cốp ra đưa cho T2. T2 hỏi D xe của ai thì D tiếp tục nói dối là xe của chị D. Sau đó, T2 trả giá chiếc xe mô tô của D là 8.500.000 VNĐ, D đồng ý rồi làm giấy tờ mua bán xe mô tô với T2 và yêu cầu T2 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của T3 do D không có điện thoại di động. T2 đã sử dụng tài khoản ngân hàng M1 số 0969951988 mang tên NGUYEN VAN TUAN chuyển số tiền 8.500.000 VNĐ vào tài khoản ngân hàng B3 số 4110897173, mang tên TONG VAN TINH của T3. Sau đó, D, T3, B1 điều khiển xe máy điện quay lại quán điện tử. Tại đây D mượn điện thoại của T3 sử dụng số tiền 8.300.000VNĐ để nạp vào tài khoản game của D và trả tiền ăn uống ở quán điện tử, còn lại 200.000VNĐ D đổi lấy tiền mặt đi xe taxi đến quán B2 để chơi bi-a cùng với T1. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, D và T1 đến quán điện tử ở thôn N, xã C, huyện M chơi điện tử, tại đây D nạp số tiền 3.000.000VNĐ từ tài khoản game của mình đến tài khoản game của T1. Khoảng 20 giờ, thông qua mạng xã hội Facebook T4 biết được chiếc xe mô tô mua của D là do D trộm cắp được mà có nên T4 đã đến quán điện tử bảo T3 và B1 đi tìm D và T1. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, trong khi D và T1 đang chơi điện tử thì T3 và B1 tìm thấy yêu cầu D và T1 về cửa hàng của T4. Sau đó, T4 đã thông báo cho Cơ quan Công an và gia đình của D, T1 biết về sự việc trên.

Ngày 28/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ trộm cắp tài sản tại bản Thống Nhất, xã C, huyện M. Địa điểm xảy ra vụ trộm cắp tài sản là tại gia đình ông Tòng Văn T thuộc bản T, xã C, huyện M. Khu vực nhà của gia đình ông Tòng Văn T có diện tích là 375m², xung quanh được ngăn cách bờ tường rào lưới B40, mặt tiền hướng T, bao gồm khu nhà ở, khu bếp, nhà kho và chuồng chăn nuôi gia súc, còn lại là khu vực sân bê tông. Lối vào nhà Tòng Văn T là một con đường bê tông, tiếp đến là cổng nhà được làm bằng khung sắt và lưới B40 có kích thước 03m x 1,8m. Tại khu vực sân bê tông phía trước nhà ở, cách hiên nhà 80cm và cách khu vực tường rào T, ông Tòng Văn T xác định đây là vị trí gia đình T dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ, không có yếm hai bên, mang biển kiểm soát 26AD-059.78, bị mất vào ngày 27/3/2025.

Ngày 28/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ trộm cắp tài sản tại bản Lằm Cút, xã M, huyện M. Địa điểm xảy ra vụ trộm cắp tài sản là đoạn đường bê tông liên xã T, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Lòng đường sử dụng rộng 3,6 m, lề đường bên trái rộng 1,6 m; lề đường bên phải rộng 1,3 m. Tại lề đường bên trái cách mép đường bê tông 80cm, cách cột điện số 08 về phía Tây Nam 0,5m; cách cột điện số 07 về phía Đông 2,2m, Cà Thị Thanh B xác định là vị trí B dựng chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh bạc, biển kiểm soát 26K1-249.65, trước khi bị mất trộm. Cách về phía T 28,22m, Cà Thị Thanh B xác định đây là vị trí Cà Thị

Thanh B làm cỏ nương, khi phát hiện bị mất chiếc xe máy.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 biển kiểm soát 26AD-059.78, đã qua sử dụng do Bùi Thị Q tự giác giao nộp.
  • - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sản xuất năm 2024, màu sơn đỏ, xe không gắn biển kiểm soát, không có yếm hai bên, xe đã qua sử dụng do Tòng Văn T tự giác giao nộp.
  • - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sản xuất năm 2022, màu sơn xanh bạc, biển kiểm soát 26K1-249.65, không có hai gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Cà Thị Thanh B do Nguyễn Văn T2 tự giác giao nộp.

Ngày 27/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S ban hành yêu cầu định giá tài sản số 1314 ngày 31/3/2025 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện M, định giá: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sản xuất năm 2024, màu sơn đỏ, xe không gắn biển kiểm soát, không có yếm hai bên, xe đã qua sử dụng và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sản xuất năm 2022, màu sơn xanh bạc, biển kiểm soát 26K1-249.65, không có hai gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 411/KL-HĐ ngày 02/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản huyện M kết luận:

“01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave A, màu sơn đỏ, không gắn biển số đăng ký, không có yếm hai bên đã qua sử dụng, sản xuất năm 2024 tại thời điểm định giá tháng 3/2025 có trị giá là 14.000.000 VNĐ;

01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu xanh bạc, đã qua sử dụng, không có hai gương chiếu hậu, biển số đăng ký 26K1-249.65, sản xuất năm 2022, tại thời điểm định giá tháng 3/2025 có trị giá là 12.000.000 VNĐ.”

* Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 02/2025/HS-ST ngày 29/7/2025, Toà án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La đã xét xử và Quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Tòng Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Tòng Văn D 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Bị cáo được trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 29/3/2025 đến ngày 06/4/2025).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

* Do không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, ngày 11/8/2025 bị cáo Tòng Văn D có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm

xem xét hoàn cảnh gia đình, giảm mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên toà phúc thẩm:

  • - Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
  • - Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 29/7/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La xét xử bị cáo Tòng Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng.

Xét thấy, bị cáo Tòng Văn D vừa là người khởi xướng, vừa là người rủ rê, xúi giục Tòng Thanh T1 (người dưới 18 tuổi) thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”. Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Tòng Văn D mức hình phạt 12 (mười hai) tháng tù là đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Tòng Văn D; giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 29/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La.

- Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc thiểu số; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 09 tháng 10 ngày, am hiểu pháp luật còn hạn chế; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; hiện nay hoàn cảnh của gia đình bị cáo rất khó khăn, bố vừa chết, mẹ bị bệnh nặng. Kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lương khoan hồng của pháp luật, xử phạt bị cáo 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo để bị cáo có cơ hội cải tạo làm người có ích cho gia đình và xã hội.

- Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo nhất trí với lời bào chữa của Luật sư, không có ý kiến tranh luận. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

trưng trong tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/8/2025 bị cáo Tòng Văn D có đơn kháng cáo gửi Toà án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La. Xét đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể và phạm vi kháng cáo nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở xác định:

Ngày 27/3/2025, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của gia đình anh Tòng Văn Đ1 và chị Cà Thị Thanh B. Bị cáo Tòng Văn D đã rủ rê, lôi kéo, xúi giục Tòng Thanh T1 (14 tuổi 11 tháng 27 ngày) thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 26AD-059.78 của anh Tòng Văn Đ1, trị giá 14.000.000 đồng và 01 chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 26K1-249.65, trị giá 12.000.000 đồng của chị Cà Thị Thanh B. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 26.000.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản, quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Bản án Hình sự sơ thẩm số: 02/2015/HS-ST ngày 29/7/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La đã nhận định, đánh giá về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại Cà Thị Thanh B là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo và nộp bổ sung đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại Cà Thị Thanh B. Huy chương kháng chiến hạng Nhì mang tên ông Tòng Văn X1 và một số tài liệu, chứng cứ khác. Nhận thấy, các tài liệu trên đều do Luật sư bào chữa cho bị cáo nộp, không có xác nhận của chính quyền địa phương nên chưa đảm bảo yếu tố xác thực và liên hệ nhân thân của ông Tòng Văn X1 để xem xét coi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, tại phiên toà sơ thẩm bị hại Cà Thị Thanh B có mặt nhưng không có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo theo quy định.

Xét thấy, bị cáo Tòng Văn D giữ vai trò chính trong vụ án, là người khởi xướng và trực tiếp rủ rê, lôi kéo Tòng Thanh T1 là người chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội. Toà án cấp sơ thẩm xác định bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm xác định bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không chính xác. Vì trong vụ án này, bị cáo 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Toà án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Căn cứ khoản 3 Điều 2; khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, bị cáo Tòng Văn D không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định. Mức hình phạt 12 tháng tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt 12 tháng tù đối với bị cáo là có căn cứ.

[4] Từ những nhận định, phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Tòng Văn D, giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La.

[5] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Tòng Văn D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Tòng Văn D; giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 02/2025/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 21; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Tòng Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 30/9/2025).

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuấn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-PT ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 29/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòng Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger