Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1- HUẾ

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/DS-ST

Ngày: 21/10/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Vinh Phú

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn và ông Nguyễn Hữu Trực.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Vân - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1- Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Huế: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 21 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1- Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 354/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 03/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.

Địa chỉ: B- B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh N, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Bảo L – chức vụ: Chuyên viên khách hàng cá nhân – Phòng G; Địa chỉ: D T, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, thành phố H) (Căn cứ theo giấy uỷ quyền số 2168/2025/QUQ-PC ngày 30/6/2025 của Tổng giám đốc G và giấy ủy quyền số 23/2025/GUQ-PGDPX ngày 01/7/2025 của ông Nguyễn Anh H – Phó giám đốc chi nhánh H2 - G). Có mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1981.

Địa chỉ: I H, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường T, thành phố H). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/9/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Thị Tường V đã ký kết các hợp đồng tín dụng sau với mục đích tiêu dùng và không có biện pháp bảo đảm:

  • - Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 20/09/2022 (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Căn cứ nhu cầu và đề nghị của bà Nguyễn Thị Tường V, ngân hàng đã cấp cho bà Nguyễn Thị Tường V hạn mức thẻ tín dụng với số tiền: 50.000.000 đồng (số tiền bằng chữ: năm mươi triệu đồng).
  • Từ ngày được cấp thẻ tín dụng bà Nguyễn Thị Tường V đã rút tiền 02 lần với số tiền: 49.800.000 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng 15 lần với tổng số tiền: 25.309.463 đồng.
  • Do đặc thù Thẻ tín dụng được giao dịch liên tục nhiều lần trong một ngày hoặc thanh toán nhiều lần trong một ngày và chỉ giới hạn trong hạn mức được cấp thẻ tín dụng, vì vậy khách hàng rút: 49.800.000 đồng và khách hàng thanh toán 25.309.463 đồng, cho đến khi thẻ tín dụng đã bị chấm dứt thì khách hàng không chịu các loại phí và chỉ chịu 01 khoản tiền lãi ban đầu là 2.6% tháng x 150% = 3.9%/tháng.
  • - Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ký ngày 06/01/2023 (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Căn cứ nhu cầu và đề nghị của bà Nguyễn Thị Tường V, ngân hàng đã cấp cho bà Nguyễn Thị Tường V hạn mức thẻ tín dụng với số tiền: 200.000.000 đồng (số tiền bằng chữ: hai trăm triệu đồng).
  • Từ ngày được cấp thẻ tín dụng bà Nguyễn Thị Tường V đã rút tiền 08 lần với số tiền: 159.510.000 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng 12 lần với tổng số tiền: 64.766.689 đồng.
  • Do đặc thù Thẻ tín dụng được giao dịch liên tục nhiều lần trong một ngày hoặc thanh toán nhiều lần trong một ngày và chỉ giới hạn trong hạn mức được cấp thẻ tín dụng, vì vậy khách hàng rút: 159.510.000 đồng và khách hàng thanh toán 64.766.689 đồng, cho đến khi thẻ tín dụng đã bị chấm dứt thì khách hàng không chịu các loại phí và chỉ chịu 01 khoản tiền lãi ban đầu là 2.6% tháng x 150% = 3.9%/tháng (căn cứ vào Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại cổ phần S có hiệu lực từ ngày 24/08/2020. Căn cứ vào Mục 1.11 Dư nợ cuối kỳ và Mục các loại phí mục số 27, thì ngoài các khoản lãi thì khách hàng còn phải chịu các khoản phí tương ứng, các khoản phí này sẽ tự động vào dư nợ cuối kỳ cho khách hàng)

Mặc dù G thường xuyên đôn đốc và nhiều lần làm việc trực tiếp để yêu cầu bà Nguyễn Thị Tường V có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ thẻ quá hạn, đồng thời phía G cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để bà Nguyễn Thị Tường V trả nợ. Tuy nhiên bà Nguyễn Thị Tường V vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, ngày 16/06/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 21/10/2025, bà Nguyễn Thị Tường V còn nợ Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là: 358.549.782 đồng. Trong đó: nợ gốc: 250.000.000 đồng; lãi trên nợ gốc quá hạn: 108.549.782 đồng. Cụ thể các hợp đồng như sau:

  • - Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 20/9/2022: nợ gốc: 50.000.000 đồng, lãi trên nợ gốc quá hạn: 42.990.218 đồng, tổng cộng: 92.990.218 đồng.
  • - Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 06/01/2023: nợ gốc: 200.000.000 đồng, lãi trên nợ gốc quá hạn: 65.559.564 đồng, tổng cộng: 265.559.564 đồng.

Nay nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên buộc bà Nguyễn Thị Tường V phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP S theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết với tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 21/10/2025 là 358.549.782 đồng; trong đó: nợ gốc: 250.000.000 đồng; lãi trên nợ gốc quá hạn: 108.549.782 đồng và lãi phát sinh kể từ ngày 22/10/2024 cho đến khi trả hết khoản vay theo lãi suất đã quy định tại hợp đồng đã ký kết. Buộc bà Nguyễn Thị Tường V phải chịu toàn bộ án phí, chi phí phát sinh khác (nếu có).

Bị đơn – bà Nguyễn Thị Tường V trong quá trình tố tụng có trình bày: Tôi thừa nhận giữa tôi và ngân hàng G (Ngân hàng TMCP S) có kí kết các hợp đồng tín dụng, giấy đề nghị cấp thẻ TD kiêm HĐ kí ngày 20/9/2022 với hạn mức TD: 50 triệu đồng, giấy đề nghị cấp thẻ TD kiêm HĐ kí ngày 06/01/2023 với hạn mức 200 triệu đồng. Tôi công nhận tính đến ngày 28/10/2024 tôi còn nợ ngân hàng G với số tiền là 258.550.716 đồng theo 02 HĐ đã kí. Trong đó nợ gốc là 218.750.173 đồng, nợ lãi quá hạn: 39.800.543 đồng. Do hiện nay tôi đang gặp khó khăn về tài chính không có khả năng trả nợ dẫn đến khoản nợ quá hạn, tôi có phương án trả nợ như sau: Mỗi tháng, tôi sẽ CK vào TK G để thanh toán khoản nợ số tiền là 1 đến 2 triệu đồng. Bà Nguyễn Thị Tường V không cung cấp tài liệu chứng cứ gì chứng minh và vắng mặt tại các buổi công khai chứng cứ và hoà giải.

Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án đã chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Huế kiểm sát theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự nên không có ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, Tòa án xác định đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng phát sinh giữa tổ chức tín dụng với cá nhân vay vốn, thuộc loại tranh chấp về dân sự được quy định tại khoản 3 điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị Tường V có địa chỉ tại I H, phường T, thành phố H nên căn cứ điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- Huế.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Tường V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, không có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Nguyễn Thị Tường V không đến làm việc, không cung cấp tài liệu, chứng cứ là tự chối bỏ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu thu thập được để giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1]. Về giao dịch giữa các bên: Căn cứ giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0301103908 đăng ký thay đổi lần thứ 41, ngày 26/12/2022 do Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố H cấp thì Ngân hàng thương mại cổ phần S (G) có tư cách pháp nhân, thực hiện hoạt động tín dụng theo khoản 1 Điều 6 Luật tổ chức tín dụng năm 2010.

Các giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 20/09/2022 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ký ngày 06/01/2023 (Bao gồm “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng”) được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S – Chi nhánh H2 và bà Nguyễn Thị Tường V là hợp đồng tín dụng bảo đảm tín chấp theo quy định tại Điều 344 và Điều 345 Bộ luật dân sự. Thoả thuận giữa bà V và Ngân hàng X từ sự tự nguyện, nội dung có các điều khoản, hình thức tuân thủ quy định của pháp luật. Do đó hợp đồng trên là hợp pháp và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên phù hợp với các Điều 385, Điều 398 và Điều 401 của Bộ luật dân sự năm 2015. Các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thoả thuận của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.

[2.2]. Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S, thấy rằng:

Quá trình thực hiện hợp đồng, G đã thực hiện đầy đủ phần nghĩa vụ của mình, Ngân hàng đã cấp các thẻ tín dụng cho bà Nguyễn Thị Tường V theo nhu cầu và đề nghị của bà Nguyễn Thị Tường V; lãi suất trong hạn là lãi suất được tính theo Biểu phí lãi suất do G công bố trong từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn là mức lãi suất tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn.

Do quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Tường V vi phạm nghĩa vụ thanh toán, thời hạn thanh toán theo cam kết với Ngân hàng thương mại cổ phần S nên ngày 16/6/2024 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 21/10/2025 bà Nguyễn Thị Tường V còn nợ Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là 358.549.782 đồng; trong đó: nợ gốc: 250.000.000 đồng; lãi trên nợ gốc quá hạn: 108.549.782 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP S về việc buộc bà Nguyễn Thị Tường V phải trả nợ gốc và lãi với số tiền trên là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 280, Điều 282 và Điều 466 Bộ luật dân sự nên có căn cứ chấp nhận.

Đối với yêu cầu của ngân hàng TMCP S về việc buộc bà Nguyễn Thị Tường V phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc theo lãi suất thoả thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết tính từ ngày 22/10/2025 cho đến khi trả hết khoản nợ, thấy rằng: yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp với các điều khoản hai bên đã thoả thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng cũng như quy định tại điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 10/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên có cơ sở chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Tường V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 điều 26; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 1 điều 147; điểm b khoản 2 điều 227; khoản 3 điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng khoản 1, 2 Điều 91; khoản 1, 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 280, Điều 282; Điều 429; Điều 351; Điều 385; Điều 398; Điều 401; Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 7, Điều 8, Điều 12; Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 10/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Tường V phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc: 250.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn: 108.549.782 đồng; tổng cộng số tiền 358.549.782 đồng.
  3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/10/2025) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong giấy đề nghị kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn - Bà Nguyễn Thị Tường V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 17.927.489 đồng.
  5. H1 lại số tiền tạm ứng án phí 6.094.000 đồng cho Ngân hàng TMCP S theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0004861 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Thi hành án dân sự thành phố H).
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND khu vực 1- Huế;
  • - THADS thành phố Huế;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu dán án;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Vinh Phú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/DS-ST ngày 21/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HUẾ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 29/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/10/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP - Buộc bà Nguyễn Thị Tường V trả tiền vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger