|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2025/HS-ST Ngày 28-10-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thế Nam
Bà Nguyễn Thị Điệp
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Đổng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại Toà án nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị; địa chỉ: Số F N, phường Q, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị, đối với các bị cáo:
1. Đào Bá N, sinh ngày 21 tháng 10 năm 1999 tại Quảng Trị; số CCCD: [...]; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Duy P, sinh năm 1973 và bà Văn Thị T, sinh năm 1974; vợ, con: Chưa có; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân Thân: Ngày 26/02/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 66/2020/HS-ST.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Phan Minh A, sinh ngày 08 tháng 6 năm 1999 tại Quảng Trị; số CCCD: [...]; nơi cư trú: Thôn T, xã H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Khắc Đ, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1975; vợ, con: Chưa có; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Thị O, sinh ngày 24 tháng 7 năm 1998 tại Thanh Hóa; số CCCD: [...]; nơi cư trú: Thôn A, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1972 và bà Bùi Thị T2, sinh năm 1968 (đều đã chết); gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; chồng tên Bùi Văn H1, sinh năm 1994; có 01 người con sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/10/2024 đến ngày 24/10/2024 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Duy P, sinh năm 1973; số CCCD: [...]; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Người làm chứng:
- Anh Lê Văn N1, sinh năm 1993; số CCCD: [...]; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
- Anh Phan Phong P1, sinh năm 2002; số CCCD: [...]; địa chỉ: Thôn P, xã H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Bá N và Phan Minh A là bạn học, chơi thân với nhau. Do cả hai đều có sử dụng ma tuý nên khoảng tháng 4/2024, N và A bàn bạc, thống nhất về việc mua ma túy loại hồng phiến đưa về cất giấu nhằm mục đích vừa bán kiếm lời, vừa có ma tuý để sử dụng. N là người bỏ tiền và liên hệ đặt mua ma tuý, quản lý số tiền thu được từ việc bán ma túy. Anh là người trực tiếp đi lấy ma túy mà N đã đặt mua, bán ma túy cho người khác theo sự chỉ đạo của N. Nếu bán được 5.000.000 đồng, N sẽ trả công cho Anh 700.000 đồng và cho ma tuý để Anh sử dụng mỗi ngày. Thông qua mối quan hệ xã hội, N quen biết với người đàn ông tên Nguyễn Tuấn H2 ở thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Biết H2 có bán ma túy loại hồng phiến nên N đặt vấn đề mua ma túy từ H2, H2 đồng ý. Những lần đầu, N sử dụng số điện thoại 0932.763.xxx liên hệ với H2 qua số điện thoại 0943.501.xxx đặt mua và trực tiếp đi lấy ma túy, sau đó N chở A cùng đi để Anh biết mặt H2, rồi N giao lại việc lấy ma túy cho A. Mỗi lần, N đặt mua từ 02 đến 03 gói (mỗi gói khoảng 200 viên ma túy), với giá 2.500.000 đồng/01 gói. Sau khi mua ma túy, N và Anh chia nhau cất giấu tại ngôi nhà mà N đang sinh sống ở thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Quảng Trị) để bán lại cho người khác với giá 50.000 đồng/01 viên, trường hợp có người mua ma túy nhiều lần trong ngày thì N sẽ bán giá thấp hơn, xem như là khuyến mãi.
Ngày 14/10/2024, N liên hệ với H2 đặt mua 02 gói ma túy và bảo A đi lấy đưa vào nhà N cất giấu để bán lại cho người khác kiếm lời. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Anh nhắn tin bảo N chuyển tiền cho người bán ma túy để A đi lấy, N đồng ý và chuyển 5.000.000 đồng vào số tài khoản ngân hàng M1 (chủ tài khoản tên NGUYEN TUAN HIEU). Sau khi chuyển tiền, Nhật báo cho Anh biết để Anh chủ động liên hệ với H2 nhận ma túy. Anh gọi cho H2 và thống nhất địa điểm giao ma tuý tại Cầu T ở thị xã Q.
Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Văn N1 (sinh năm 1993, trú tại thôn Đ, xã H, tỉnh Quảng Trị) sử dụng số điện thoại 0398.129.xxx gọi cho N hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý loại hồng phiến, N đồng ý bán. N1 đi đến nhà N, N đưa cho N1 01 túi nilon, bên trong có chứa 30 viên ma túy. N1 nhận lấy túi nilon và hẹn trả tiền sau, N đồng ý, N1 ra về.
Khoảng 19 giờ cùng ngày, H2 đưa gói ma tuý vào Cầu Trắng ở thị xã Q giao cho A. Anh nhận gói ma tuý đưa vào nhà N và báo cho N biết đã nhận được ma tuý, N bảo Anh cất giấu để chủ động bán cho người khác. Anh mở gói ma túy ra kiểm tra thấy bên ngoài được quấn nhiều lớp băng keo màu đen, bên trong có 02 gói nilon màu xanh chứa các viên ma túy. Anh lấy 01 gói ma túy bỏ vào trong vỏ thuốc lá hiệu Thăng Long và cất giấu trên mái che phía sau nhà của N; gói ma túy còn lại, A mở ra lấy 20 viên bỏ vào một túi nilon trong suốt rồi cất giấu sau túi quần nếu ai hỏi mua thì bán, rồi bỏ gói ma tuý vào trong vỏ thuốc lá hiệu WHITE HORSE và cất giấu bên trong túi xách áo quần của Anh để tại nhà của N. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Phan Phong P1; trú tại thôn P, xã H, tỉnh Quảng Trị đến nhà N hỏi mua 10 viên ma túy, N đồng ý bán với giá 500.000 đồng. N nhận tiền và bảo A lấy 10 viên ma túy đưa cho P1. Anh lấy 10 viên trong gói ma tuý cất giấu ở túi xách áo quần của mình đưa ra cho P1.
Khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, một người đàn ông sử dụng số điện thoại 0792.108.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0932.763.xxx của N hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý loại hồng phiến. N thông báo cho Anh biết và gửi số điện thoại 0774.790.xxx của Anh cho người này, để người này liên lạc với A. Một lúc sau, người đàn ông sử dụng số điện thoại 0792.108.xxx gọi cho Anh hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý. Anh đồng ý bán với số lượng 20 viên ma túy, hai bên thống nhất địa điểm giao nhận ma túy tại chợ H4 thuộc thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn Q, xã H, tỉnh Quảng Trị). Anh lấy 20 viên trong gói ma tuý cất giấu ở túi xách áo quần của mình, bỏ vào túi nilon trong suốt (loại túi zip), rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74F6-3079 đi đến chợ H4 giao cho người đàn ông và nhận số tiền 1.000.000 đồng lên đưa lại cho N.
Khoảng gần 20 giờ cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma túy loại Ketamine nên N liên lạc với nam thanh niên sử dụng Messenger tên “Q” hỏi mua 2.500.000 đồng ma túy loại Ketamine. “Quảng Bọ” đồng ý bán và cả hai thống nhất địa điểm giao nhận ma túy tại thị xã Q (nay là phường Q). N đưa cho Anh 2.500.000 đồng và bảo Anh chạy xe ra thị xã Q liên lạc với “Quảng Bọ” để lấy ma tuý loại Ketamine đưa vào để N sử dụng. Anh nhận tiền và điều khiển xe ra thị xã Q liên lạc với “Quảng Bọ” hẹn gặp ở đường L, thị xã Q để lấy ma tuý Ketamine giúp N. Khi gặp nhau, “Quảng Bọ” đưa cho Anh một túi nilon màu đen loại có hai quai xách được buộc thắt miệng bao, Anh biết bên trong là ma túy loại Ketamine mà N đã đặt mua nên nhận lấy và đưa số tiền 2.500.000 đồng cho “Quảng Bọ” rồi điều khiển xe đưa vào cho N. N nhận lấy túi nilon màu đen chứa ma túy loại Ketamine rồi đưa vào phòng ngủ của N cất giấu để sử dụng, còn Anh qua một phòng khác trong nhà N nằm chơi điện thoại. Thời điểm này tại phòng ngủ của N còn có Nguyễn Thị O. N lấy túi nilon màu đen mở ra kiểm tra thấy có một hộp giấy, bên trong có một túi nilon trong suốt (loại túi zip) chứa ma túy loại Ketamine. N đưa túi nilon chứa ma túy cho O, O nhận lấy và cất giấu dưới gối ngủ trong phòng. Khoảng 23 giờ cùng ngày, N bảo O “xào” ma túy để N và O cùng sử dụng. O xuống bếp lấy 01 dĩa sứ, bật bếp gas đốt nóng dĩa rồi đưa vào để trên giường ngủ của N. O lấy túi ma túy loại Ketamine cất giấu dưới gối ngủ đổ một phần lên dĩa để sử dụng trước, phần còn lại trong túi O bỏ vào túi xách của mình để khi nào sử dụng hết số ma túy trên dĩa thì lấy ra “xào” để sử dụng tiếp. Tiếp đó, O lấy thẻ cứng màu đen có chữ GUCCI có sẵn trong phòng để “xào” ma túy rồi kẻ thành 03 đường. Nhật làm 01 cái ống được cuốn bằng tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng và dùng ống hít vào cơ thể qua đường mũi liên tiếp 02 đường, O dùng ống hít đường ma túy còn lại trên dĩa.
Khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, khi N và O đang sử dụng ma túy, người đàn ông sử dụng số điện thoại 0792.108.xxx tiếp tục nhắn tin cho N hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý loại hồng phiến và đề nghị N khuyến mãi thêm một ít ma túy vì đã mua 02 lần trong ngày. N đồng ý và nhắn tin bảo người đàn ông đó gọi cho Anh qua số điện thoại 0774.790.xxx, đồng thời N nhắn tin cho Anh với nội dung “Thằng ni nói mua một triệu khi nãy rồi, giờ nó mua thêm một triệu thì đưa cho nó 30 viên”, Anh đồng ý. Một lúc sau, người đàn ông sử dụng số điện thoại 0792.108.xxx gọi cho A, hai bên thống nhất địa điểm giao nhận ma túy tại chợ H4 thuộc thôn Q, xã H. Anh lấy 30 viên trong gói ma tuý cất giấu ở túi xách áo quần của mình bỏ vào túi nilon trong suốt (loại túi zip), do bị rơi ra ngoài 01 viên nên Anh lấy sử dụng, trong túi nilon chỉ còn 29 viên. Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74F6-3079 đi đến chợ H4 để giao ma tuý cho người đàn ông sử dụng số điện thoại 0792.108.xxx thì bị phát hiện, bắt quả tang đang cất giấu 49 viên nén màu hồng (trong đó, 29 viên Anh đưa đi để giao cho người mua, còn 20 viên Anh đã cất giấu ở trong túi quần trước đó). Cùng thời điểm trên, Tổ công tác Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang Đào Bá N và Nguyễn Thị O đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ nhà của N. Tổ công tác thu giữ tại hiện trường 01 dĩa sứ màu trắng, trên dĩa có 01 thẻ cứng ghi chữ GUCCI, 01 cái ống được cuốn bằng tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng và chất rắn dạng bột màu trắng. Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong nước tiểu của O cho kết quả dương tính với K; xét nghiệm nhanh chất ma túy trong nước tiểu của N cho kết quả dương tính với chất ma túy Ketamine và M.
- Tại Kết luận giám định số 1136/KL-KTHS ngày 22/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q xác định: 49 viên nén màu hồng thu giữ từ Phan Minh A là ma tuý loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 4,4321gam.
Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
- Tại Kết luận giám định số 1141/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, xác định:
+ Tìm thấy chất ma túy loại Ketamine trên bề mặt dĩa sứ màu trắng, thẻ cứng ghi chữ GUCCI, ống được cuốn bằng tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng đã thu giữ.
+ Số ma túy thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đào Bá N gồm: 1,3823gam ma túy loại Ketamine; 25,4219gam ma tuý loại Methamphetamine.
Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT: 40 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
+ 04 viên nén màu xanh không tìm thấy chất ma tuý.
- Tại Kết luận giám định số 1181/KL-KTHS ngày 30/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, xác định: Dấu vết đường vân ký hiệu A1 (phát hiện trên bề mặt bao nilon bọc bên ngoài vỏ bao thuốc lá hiệu WHITE HORSE) với đường vân in ở ô Cái trái trên danh chỉ bản mang tên Phan Minh A, sinh ngày 08/6/1999; trú tại: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị là đường vân của cùng một người.
Tại Cáo trạng số 23/CT-VKSKV6 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị đã truy tố bị cáo Đào Bá N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b và i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phan Minh A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b và i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị O, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Đào Bá N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Phan Minh A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Thị O phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
* Về hình phạt chính:
- Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Bá N từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt chung mức án từ 11 năm 03 tháng - 12 năm tù.
- Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 250; Điều 17 (đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”); Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Minh A từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt chung mức án từ 10 năm 09 tháng - 11 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị O từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu và tiêu hủy số ma túy, bao gói và các vật dụng khác không có giá trị sử dụng hoàn lại sau giám định.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 (thu giữ của Đào Bá N); 01 điện thoại di động Iphone X, vỏ máy màu đen (thu giữ của Phan Minh A); 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng.
- Trả lại cho Phan Minh A: 01 ví da màu đen, bên ngoài có chữ GUCCI.
- Trả lại cho Đào Bá N: xe mô tô biển kiểm soát 77K1- 41051 và điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs.
- Trả lại cho ông Đào Duy P: xe mô tô biển kiểm soát 74F6-3079.
- Buộc Đào Bá N nộp lại số tiền 1.500.000 đồng, là số tiền bán ma túy cho Phan Phong P1 và người đàn ông sử dụng số điện thoại 0792.108.xxx để sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phần tranh luận: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Vào ngày 14/10/2024, tại địa bàn xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là xã V, tỉnh Quảng Trị) và xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là xã H, tỉnh Quảng Trị), Đào Bá N và Phan Minh A đã có hành vi mua, cất giữ trái phép 29,854 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho người khác để kiếm lời. Trong ngày 14/10/2024, Đào Bá N và Phan Minh A đã nhiều lần bán ma tuý cho nhiều người khác, cụ thể: Bán cho Lê Văn N1 30 viên ma túy với giá 1.000.000 đồng; bán cho Phan Phong P1 10 viên ma túy với giá 500.000 đồng và 02 lần bán tổng cộng 49 viên ma tuý với giá 2.000.000 đồng cho người đàn ông sử dụng số điện thoại 0792.108.xxx. Cùng ngày, tại địa bàn xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là xã H, tỉnh Quảng Trị), Đào Bá N và Nguyễn Thị O đã có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó, Đào Bá N đã có hành vi chuẩn bị địa điểm, cung cấp ma túy loại Ketamine cho Nguyễn Thị O sử dụng; Nguyễn Thị O đã có hành vi chuẩn bị dụng cụ, hơ nóng dĩa và chia nhỏ ma túy Ketamine thành từng đường nhỏ để Đào Bá N cùng sử dụng. Tối ngày 14/10/2024, Phan Minh A đã có hành vi vận chuyển trái phép 1,3823gam ma túy loại Ketamine từ nam thanh niên sử dụng Messenger tên “Quảng Bọ” ở thị xã Q, tỉnh Quảng Trị (nay là phường Q, tỉnh Quảng Trị) đến thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Quảng Trị) để giao cho Đào Bá N mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Do đó, hành vi của Đào Bá N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; hành vi của Phan Minh A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự; hành vi của Nguyễn Thị O đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với Nguyễn Thị O tại thời điểm phạm tội bị cáo đang mang thai nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, Đào Bá N là người trực tiếp thờ cúng ông nội là người có công với cách mạng và Phan Minh A có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cả hai bị cáo đều được chính quyền địa phương xác nhận nội dung này. Do đó, hai bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn. Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân, vai trò của từng bị cáo để xét xử các bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
Xét vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đối với Đào Bá N là người khởi xướng, bỏ tiền và chủ động liên hệ đặt mua ma túy, quản lý số ma túy và số tiền thu được từ việc bán ma túy, đồng thời cung cấp ma túy cho Nguyễn Thị O sử dụng. Do đó, N phải chịu hình phạt cao nhất trong số các bị cáo và cách ly Đào Bá N ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo.
Đối với Phan Minh A giữ vai trò là người thực hành tích cực, thực hiện hành vi phạm tội theo sự chỉ đạo của Đào Bá N, là người trực tiếp thực hiện hành vi bán ma túy cho người mua. Ngoài ra, Phan Minh A còn thực hiện thêm hành vi vận chuyển ma tuý từ phường Q vào xã H cho Đào Bá N. Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng nên cũng phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo Nguyễn Thị O chỉ bị truy tố về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy", mặt khác, Nguyễn Thị O có vai trò thấp hơn Đào Bá N. Bên cạnh đó, Nguyễn Thị O có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, xử phạt bị cáo ở mức án thấp nhất so với các bị cáo khác là tương xứng với vai trò, hành vi phạm tội của bị cáo đồng thời thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.
[6]. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
- Đối với số ma túy, bao gói và các vật dụng khác hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 của Đào Bá N; 01 điện thoại Iphone, màu đen của Phan Minh A; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- 01 ví da màu đen, bên ngoài có chữ GUCCI của Phan Minh A không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho Phan Minh A.
- Xe mô tô biển kiểm soát 77K1-41051 và điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs của Đào Bá N không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho Đào Bá N.
- Xe mô tô biển kiểm soát 74F6-3079 chủ sở hữu là ông Đào Xuân H3, ông H3 chết và giao xe lại cho ông P quản lý. Tại thời điểm Đào Bá N và Phan Minh A sử dụng xe làm phương tiện đi bán ma tuý, ông P không biết nên trả lại cho ông Đào Duy P.
[7]. Đối với số tiền 1.500.000 đồng bán ma túy cho Phan Phong P1 và bán ma túy cho người đàn ông sử dụng số điện thoại 0792.108.xxx là tiền do phạm tội mà có nên buộc Đào Bá N phải nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước.
[8]. Đối với các lần mua bán trái phép chất ma tuý trước đó của Đào Bá N và Phan Minh A, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa có kết quả, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.
[9]. Đối với Nguyễn Tuấn H2, do quá trình điều tra, H2 không có mặt tại địa phương, không triệu tập làm việc được nên ngày 21/7/2025, Cơ quan điều tra đã tách hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” vào ngày 14/10/2024 giữa Nguyễn Tuấn H2 với Đào Bá N và Phan Minh A để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
[10]. Đối với người đàn ông sử dụng Mesenger tên “Quảng Bọ” và người đàn ông sử dụng số điện thoại 0792.108.xxx, Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra nhưng chưa xác định được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[11]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phan Minh A, Lê Văn N1 và Phan Phong P1, Cơ quan điều tra đã chuyển thông tin, tài liệu đến Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q đề nghị phối hợp với Công an xã H để xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
[12]. Các bị cáo đều bị xử phạt tù nên cần tiếp tục ban hành quyết định tạm giam trong thời hạn 45 ngày đối với Đào Bá N, Phan Minh A và ban hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Thị O để đảm bảo cho việc thi hành án.
[13]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 255; Điều 17; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Đào Bá N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt Đào Bá N 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 02 (hai) năm (03) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Đào Bá N phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 11 (mười một) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 15/10/2024.
2. Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 250; Điều 17 (đối với tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”); Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Phan Minh A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt Phan Minh A 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Phan Minh A phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 10 (mười) năm 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 15/10/2024.
3. Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị O phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
- Xử phạt Nguyễn Thị O 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/10/2024 đến ngày 24/10/2024.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
3.1 Tịch thu và tiêu hủy:
- 01 (một) túi niêm phong có mã số MT1136, bên ngoài có chữ ký những người tham gia niêm phong và hình dấu Phòng K1 Công an tỉnh Q, bên trong túi chứa:
- + 25 (hai mươi lăm) viên nén màu hồng có khối lượng 2,2715 gam (hai phẩy hai bảy một năm gam) và 0,3344 gam (không phẩy ba ba bốn bốn gam) chất ma túy loại Methamphetamine, do Phòng K1 Công an tỉnh Q hoàn trả sau giám định từ mẫu ký hiệu MT1 gửi đến giám định.
- + 17 (mười bảy) viên nén màu hồng có khối lượng 1,5225 gam (một phẩy năm hai hai năm gam) và 0,2389 gam (không phẩy hai ba tám chín gam) chất ma túy loại Methamphetamine, do Phòng K1 Công an tỉnh Q hoàn trả sau giám định từ mẫu ký hiệu MT2 gửi đến giám định.
- 01 (một) túi niêm phong có mã số NS3A 077882, bên ngoài có chữ ký những người tham gia niêm phong và hình dấu Phòng K1 Công an tỉnh Q, bên trong túi chứa 02 (hai) túi nilon trong suốt, kích thước (4x5,5)cm và (2,6x5,5)cm.
- 01 (một) túi niêm phong có mã số 1141/2024/PC09, bên ngoài có chữ ký những người tham gia niêm phong và hình dấu Phòng K1 Công an tỉnh Q bên trong túi chứa mẫu trong hộp niêm phong ký hiệu MT3 còn lại sau giám định, gồm:
- + 1,355 gam (một phẩy ba năm năm gam) chất bột màu trắng, là ma túy Ketamine, do Phòng K1 Công an tỉnh Q hoàn trả sau giám định từ mẫu trong túi nilon ký hiệu 1.
- + Các viên nén màu hồng có khối lượng 5,1595 gam (năm phẩy một năm chín năm) và 0,4155 gam (không phẩy bốn một năm năm gam) chất ma túy loại Methamphetamine; 0,0564 gam (không phẩy không năm sáu bốn gam) chất bột màu xanh do Phòng K1 Công an tỉnh Q hoàn trả sau giám định từ mẫu trong túi nilon ký hiệu 2.
- + Các viên nén màu hồng có khối lượng 16,2402 gam (mười sáu phẩy hai bốn không hai gam) và 1,2842 gam (một phẩy hai tám bốn hai gam) chất ma túy loại Methamphetamine; 0,1308 gam (không phẩy một ba không tám gam) chất bột màu xanh do Phòng K1 Công an tỉnh Q hoàn trả sau giám định từ mẫu trong túi nilon ký hiệu 3.
- + Các viên nén màu hồng có khối lượng 1,9755 gam (một phẩy chín bảy năm năm gam) và 0,2281 gam (không phẩy hai hai tám một gam) chất ma túy loại Methamphetamine; 0,0487 gam (không phẩy không bốn tám bảy gam) chất bột màu xanh do Phòng K1 Công an tỉnh Q hoàn trả sau giám định từ mẫu trong túi nilon ký hiệu 4.
- 01 (một) hộp giấy ký hiệu MT1-SGĐ, bên ngoài có dán giấy niêm phong, có chữ ký những người tham gia niêm phong và hình dấu Phòng K1 Công an tỉnh Q, bên trong có: 01 dĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 26 cm đã qua sử dụng; 01 cái thẻ cứng màu đen có chữ GUCCI.
- 01 (một) hộp giấy ký hiệu MT2-SGĐ, bên ngoài có dán giấy niêm phong, có chữ ký những người tham gia niêm phong và hình dấu Phòng K1 Công an tỉnh Q, bên trong có 01 chai nước không nhãn hiệu; 07 mãnh giấy kẽm (là loại giấy kẽm của bao thuốc lá), một đầu bị cháy đen; 02 bật lửa gas, một cái màu xanh, một cái màu đỏ.
- 01 (một) hộp giấy ký hiệu MT3-SGĐ, bên ngoài có dán giấy niêm phong, có chữ ký những người tham gia niêm phong và hình dấu Phòng K1 Công an tỉnh Q, bên trong có: 01 túi nilon (loại túi zip) kích thước (4x4) cm, bên trong túi nilon có chứa các tinh thể rắn màu trắng; 01 vỏ tuốc lá hiệu WHITE HORSE, bên trong vỏ thuốc lá có chứa 01 túi nilon màu xanh kích thước (9x6,5)cm; 01 vỏ thuốc lá hiệu Thăng Long bên trong có 01 túi nilon màu xanh kích thước (9x6,5) cm; 01 túi nilon màu trắng kích thước (7x4,5) cm; 01 túi nilon màu đen kích thước (17x25) cm bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước (14x20) cm, bên trong túi có các túi dạng túi zip có cùng kích thước (07x4,5) và 02 túi nilon màu hồng có in chữ A cùng kích thước (9x6,5) cm.
3.2. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu MT1-SGĐ; 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu MT2-SGĐ; 01 điện thoại Iphone 13, vỏ máy màu trắng sữa, bên trong có 01 thẻ sim Vietel có dãy số 8984048000921627269 của Đào Bá N được niêm phong trong túi ký hiệu 554; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, màu đen, mặt sau bị nứt vỡ, cạnh bên trái và bên phải bị cong lệch khỏi khung máy, gắn kèm sim in số 0801230133031594 của Phan Minh A được niêm phong trong túi có ký hiệu 553.
3.3. Trả lại cho chủ sở hữu các tài sản sau:
- Trả lại cho Đào Bá N 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, bên trong gắn một thẻ sim Mobifone có dãy số 8401240633035614 WD được niêm phong trong túi ký hiệu 558 và 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 77K1-41051, màu sơn xanh đậm, trên nền sơn xanh đậm có ghi chữ Vario; số máy: JMD1E1042811, số khung: MH1JM116NK042587
- Trả lại cho Phan Minh A 01 (một) ví da màu đen, bên ngoài có chữ GUCCI.
- Trả lại cho ông Đào Duy P 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, màu sơn: xanh, gắn biển kiểm soát 74F6-3079, trên nền sơn xanh có ghi chữ WAVE 110.
Các vật chứng trên hiện có tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị (Phòng thi hành án dân sự khu vực 6) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/10/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Q và Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
- Buộc Đào Bá N phải nộp lại số tiền 1.500.000đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên phiên tòa Lê Thanh Khánh |
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 28/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG TRỊ về vụ án hình sự
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Bá N cùng đồng phạm mua bán trái phép chất ma tuý
