Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày 25/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai Loan.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Tám.
  2. Bà Võ Thị Hồng Hải.

- Thư ký phiên tòa: bà Hồ Thị Hoàng Sa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Đỗ Văn H, sinh ngày 05/01/1992; nơi sinh: xã Đ, thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn N và bà Nguyễn Thị L; vợ Nguyễn Thị H1; bị cáo chưa có con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Bị hại: ông Đinh Hữu X, sinh năm 1954. Có mặt.

Địa chỉ: thôn P, xã Q, thành phố Đà Nẵng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Đỗ Văn A, sinh năm 1999. Có mặt.
  • Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, thành phố Đà Nẵng.
  • + Anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1989. Có mặt.
  • Địa chỉ: thôn P, xã Q, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 23/7/2025, bị cáo cùng mẹ là bà Nguyễn Thị L, vợ là Nguyễn Thị H1 và cháu Đỗ Tuệ M đi dự tiệc tân gia tại nhà người thân tại thôn P, xã Q. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, bị cáo đi một mình, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92G1-236.51 về trước. Chị H1 chở bà L và cháu M đi sau. Đến cổng chào thôn X thuộc xã Đ, bị cáo đứng lại chờ chị H1 đến để lấy tiền mua bánh tráng. Chị H1 đưa tiền cho bị cáo rồi về trước. Bị cáo đến nhà ông X hỏi mua bánh tráng. Khi ông X vào nhà lấy bánh tráng, bị cáo nhìn thấy ở tay nắm cửa nhà của ông X có treo một chiếc quần tây màu đen, bên trong túi có một cái ví da. Bị cáo liền lấy cái ví da, bỏ vào túi quần bên phải của bị cáo rồi ra xe ngồi đợi ông X mang bánh tráng ra. Khoảng năm phút sau, ông X đem bánh tráng ra, bị cáo trả tiền bánh tráng rồi về. Khi đến đoạn đường thuộc thôn X, bị cáo dừng lại, lấy ví da vừa trộm được ra kiểm tra thấy có tiền, căn cước công dân và đăng ký mô tô biển kiểm soát 92G1-176.14 mang tên Đinh Hữu X. Bị cáo lấy tiền bỏ vào túi quần và vứt căn cước công dân, đăng ký mô tô vào rừng keo bên đường. Sáng ngày 24/7/2025, bị cáo lấy tiền vừa trộm của ông X đếm được 13.612.000 đồng. Bị cáo tiêu xài cá nhân hết 1.012.00 đồng và cất 12.600.000 đồng vào tủ quần áo.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

  • + Xe mô tô biển kiểm soát 92G1-236.51 đứng tên Nguyễn Ngọc D.
  • + 01 ví da, 01 căn cước công dân và 01 đăng ký mô tô biển kiểm soát 92G1-176.14 mang tên Đinh Hữu X; số tiền 12.600.000 đồng và 01 quần tây màu đen (đã trả lại cho ông Đinh Hữu X).
  • + 01 mũ bảo hiểm màu xám;
  • + 01 quần tây màu xanh đen;
  • + 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc ô vuông màu tối;
  • + 01 thẻ USB bên trong lưu trữ 02 đoạn video an ninh trên đường ghi lại.

Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSKV6 ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đỗ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo tại Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hánh án.

Về dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: trả lại cho bị cáo 01 mũ bảo hiểm màu xám; 01 quần tây màu xanh đen; 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc ô vuông màu tối; trả lại cho anh Đỗ Văn A một xe mô tô biển kiểm soát 92G1-236.51; lưu hồ sơ vụ án 01 thẻ USB bên trong lưu trữ 02 đoạn video an ninh trên đường ghi lại.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội, đối chiếu với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23/7/2025, tại nhà ông Đinh Hữu X thuộc thôn P, xã Q, bị cáo Đỗ Văn H đã lợi dụng sự sơ hở của ông X trong quản lý tài sản, có hành vi lén lút trộm cắp một cái ví da, bên trong có 13.612.000 đồng, 01 căn cước công dân và 01 đăng ký mô tô biển kiểm soát 92G1-176.14 mang tên Đinh Hữu X.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng số 01/CT-VKSKV6 ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: quyền sở hữu tài sản của mọi công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo lợi dụng sự sơ hở và mất cảnh giác của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: không.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự, xét thấy không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo được tự cải tạo tại nơi cư

trú, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 3.900.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025:

  • + 01 mũ bảo hiểm màu xám; 01 quần tây màu xanh đen; 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc ô vuông màu tối không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
  • + Xe mô tô biển kiểm soát 92G1-236.51: do anh Nguyễn Ngọc D đứng tên chủ sở hữu trên Giấy chứng nhận đăng ký xe. Chủ sở hữu hợp pháp không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện đi trộm cắp, nên cần trả lại. Đối với việc thỏa thuận giữa anh D và anh A về nhờ đứng tên hộ trên Giấy chứng nhận đăng ký xe, không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Tại phiên tòa, anh A cũng không cung cấp được chứng cứ thể hiện là chủ sở hữu hợp pháp. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên trả xe mô tô biển kiểm soát 92G1-236.51 cho chủ sở hữu hợp pháp là người đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe là phù hợp.
  • + Lưu hồ sơ vụ án 01 thẻ USB bên trong lưu trữ 02 đoạn video an ninh trên đường ghi lại.
  • + Đối với 01 ví da, 01 căn cước công dân và 01 đăng ký mô tô biển kiểm soát 92G1-176.14 mang tên Đinh Hữu X; số tiền 12.600.000 đồng và 01 quần tây màu đen: cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Đinh Hữu X là đúng với quy định của pháp luật.

[7]. Những vấn đề khác trong vụ án:

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 92G1-236.51: xe này do anh Nguyễn Ngọc D đứng tên chủ sở hữu. Việc bị cáo dùng xe mô tô này đi trộm cắp tài sản, chủ sở hữu không biết nên không có căn cứ để xử lý.

[8]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10]. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2` Điều 51, Điều 65, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 292, 299, 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Đỗ Văn H 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25-11-2025).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng:

  • - Trả lại cho anh Nguyễn Ngọc D 01 xe mô tô biển kiểm soát 92G1-236.51.
  • - Trả lại cho bị cáo: 01 mũ bảo hiểm màu xám; 01 quần tây màu xanh đen; 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc ô vuông màu tối.
  • (Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/10/2025).
  • - Lưu hồ sơ vụ án 01 thẻ USB bên trong lưu trữ 02 đoạn video an ninh trên đường ghi lại.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25-11-2025).

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Đà Nẵng;
  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - VKSND khu vực 6 - Đà Nẵng;
  • - THADS thành phố Đà Nẵng;
  • - Văn phòng Công an thành phố Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT CA thành phố Đà Nẵng;
  • - Bộ phận HSNV CA thành phố Đà Nẵng;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mai Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger