Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 265/2025/HS-ST

Ngày: 27/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương.

Thẩm phán: Ông Dương Lê Bửu Thiện.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Đây.

Ông Nguyễn Thanh Nghĩa.

Bà Lê Ngọc Sương.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Hải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông Nguyễn Như Quang Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 266/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 288/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

  1. Bùi Trường Đ; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1995 tại tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang). Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân. Số căn cước công dân: 091095010608, cấp ngày 25/10/2022; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C5. Nơi cư trú: Tổ I, ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (nay là xã V, tỉnh An Giang). Trình độ học vấn: Lớp 06/12. Con ông Bùi Thanh C (đã chết) và bà Trương Thị L, sinh năm 1958. Bị cáo là con thứ sáu trong gia đình có chín chị em. Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ ngày 02/3/2025, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 643/LTG-CSHS ngày 10/3/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ.

  2. Bùi Trường T; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1995 tại tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang). Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân. Số căn cước công dân: 091095015860, cấp ngày 04/11/2022; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C5. Nơi cư trú: Tổ I, ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (nay là xã V, tỉnh An Giang). Trình độ học vấn: Lớp 06/12. Con ông Bùi Thanh C (đã chết) và bà Trương Thị L, sinh năm 1958. Bị cáo là con thứ bảy trong gia đình có chín chị em. Vợ, con: Chưa có. Bị cáo sống chung như vợ chồng với Huỳnh Thị B, sinh năm 2002, địa chỉ thường trú: ấp L, xã T, huyện V (nay là xã V), thành phố Cần Thơ và có 01 con chung tên Bùi Huỳnh M, sinh ngày 16/5/2024.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ ngày 02/3/2025, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 642/LTG-CSHS ngày 10/3/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ.

- Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo Đ, T: Luật sư Lê Duy Á – Văn phòng luật sư Hoàng Như V thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.

Địa chỉ: Số B N, khu phố B, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai. ĐT: 0916 300 068

- Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Đ, T: Luật sư Võ Văn C1 – Công ty L5 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.

Địa chỉ: Số C L, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

SĐT: 0938 249 518 và 0944 031 202

- Bị hại: Trần Thanh N (đã chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Trần Văn C2, sinh năm 1954.

    Địa chỉ: ấp G, xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 038 985 1021

  2. Trần Thị C3, sinh năm 1950.

    Địa chỉ: ấp G, xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 038 985 1021

  3. Nguyễn Thị P, sinh năm 1998.

    Địa chỉ: ấp G, xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 0902 270 137 và 0981 802 706

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Huỳnh Thị B, sinh năm 2002.

    Địa chỉ: ấp G, xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 0784 070 818

  2. Nguyễn Thị L1, sinh năm 1992.

    Địa chỉ: ấp G, xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 0876 952 365

  3. Huỳnh Ngọc T1, sinh năm 1978.

    Địa chỉ: ấp G, xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 0393 262 380

  4. Nguyễn Thị D, sinh năm 2003.

    Địa chỉ: ấp G, xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 0523 871 374

  5. Huỳnh Văn T2, sinh năm 1999.

    Địa chỉ: ấp G, xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 0777 514 699

  6. Bùi Chúc L2, sinh năm 1984.

    Địa chỉ: Tổ I, ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (nay là xã V, tỉnh An Giang). SĐT: 0868 030 921 676

  7. Phan Văn S, sinh năm 1988.

    Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 0356 389 676

- Người làm chứng:

  1. Đỗ Vũ L3, sinh năm 2001.

    Địa chỉ: ấp G, xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 0984 132 837

  2. Bùi Như H, sinh năm 2004.

    Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 0766 814 415

(Bị cáo, luật sư, đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Trường T chung sống như vợ chồng với chị Huỳnh Thị B, sinh năm 2002, thường trú tại ấp L, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ (nay là xã V, thành phố Cần Thơ) và đã có với nhau 01 con gái sinh ngày 16/5/2024 nhưng đến nay chưa đăng ký khai sinh.

Khoảng 21 giờ ngày 01/3/2025, Bùi Trường T và Bùi Trường Đ (là anh trai ruột của T) đi đến nhà của ông Huỳnh Ngọc T1, sinh năm 1978, địa chỉ: tại ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai (nay là xã A, tỉnh Đồng Nai), là bố của chị B để nhậu. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang nhậu thì Đ nói với chị B muốn nhận con gái của T và chị B làm con nuôi và muốn con gái của T và chị B phải gọi Đ bằng “ba” nên chị B và Nguyễn Thị L1, sinh năm 1992, thường trú tại ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã L, tỉnh Đồng Tháp) là chị họ của chị B không đồng ý và nói “con là con, mà cháu là cháu”, chị L1 nói thêm “gọi như vậy khác gì em tao lấy cả hai anh em mày”. Sau đó, giữa T, Đ và chị B, L1 xảy ra cự cãi, xô đẩy nhau nên T đã bế con gái của T đi ra xe mô tô rồi yêu cầu Đ điều khiển xe mô tô đi về. Khi T và Đ điều khiển xe mô tô đi ra ngoài đường để đi về thì L1 gọi điện qua mạng xã hội Messenger cho Trần Thanh N, sinh năm 1987, thường trú tại ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã L, tỉnh Đồng Tháp) là em rể của L1 nói “tao đang ở nhà cậu T1, có xảy ra mâu thuẫn đánh nhau, tao có vào can thì anh em T, Đ đánh tao, mày về nói nó giùm”. Khi L1 nói vậy thì N nói “đánh nhau vì chuyện gì, sao lại đánh nhau” thì L1 nói “hai vợ chồng B, T đánh nhau, tao vào can thì hai anh em nó đánh tao luôn, mày về coi mà la nó” rồi L1 tắt điện thoại. Khi L1 và N nói chuyện thì được Nguyễn Thị P, sinh năm 1998, thường trú tại ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã L, tỉnh Đồng Tháp) là vợ của N và em gái L1 nghe thấy do N đang mở loa ngoài từ điện thoại di động của mình.

Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, khi Đ điều khiển xe mô tô chở T đi ngược chiều về đến vòng xoay khu công nghiệp L thuộc ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai (nay là xã A, tỉnh Đồng Nai) đi trên quốc lộ E thì Nguyễn Thị P nhìn thấy T nên gọi “T ơi, mày đứng lại”. Nghe có người gọi nên T và Đ dừng xe mô tô lại thì thấy P đang cầm 01 nón bảo hiểm cùng chồng là Trần Thanh N chạy bộ đến. Thấy vậy, T đã nhặt 01 cục gạch bê tông dưới nền đường lên cầm ở tay phải còn Đ mở cốp xe mô tô lấy ra 01 cái tua vít dài 16cm, cán nhựa, mũi kim loại rồi cùng xông về phía N, P để đánh nhau. Lúc này, T dùng cục bê tông định đập vào đầu N nhưng không đánh trúng N, còn Đ cầm tua vít ở tay phải đâm về phía N. Sau đó, hai bên giằng co đánh nhau, N dùng tay đánh, xô T và Đ ngã xuống nền đường còn P thì dùng nón bảo hiểm đánh vào người Đ và T. Khi hai bên đang giằng co đánh nhau ở lề đường Quốc lộ 51 thì Đ đã dùng tua vít đâm trúng 01 cái vào thái dương bên trái của N làm N ngã gục xuống đường, còn T cũng chạy đến ngồi xổm lên người N rồi dùng tay đấm liên tiếp khoảng 3 - 4 cái vào người N. Lúc này, người dân đi đường thấy vậy nên đã chạy đến can ngăn đồng thời đưa N đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu. Sau đó, Bùi Trường T và Bùi Trường Đ đã đến Công an xã A, tỉnh Đồng Nai để đầu thú. Do vết thương quá nặng nên N được chuyển đến Bệnh viện Đ2 rồi chuyển tiếp đến Bệnh viện Chợ Rẫy - Thành phố H để cấp cứu nhưng đã tử vong ngày 04/3/2025.

Quá trình điều tra, các bị can đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 15 giờ ngày 02/3/2025 của Công an tỉnh Đ xác định: Nơi xảy ra vụ án là tại đoạn đường nhựa trên Quốc lộ E, Km 14+200 thuộc ấp G, xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tiến hành khám nghiệm, đo vẽ, chụp ảnh hiện trường và thu giữ vật chứng.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 066.01/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 24/3/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của Trần Thanh N như sau:

  1. Kết quả khám nghiệm:
    • + Khám ngoài: 02 vết thương vùng đầu. Vết xước da má phải. Các vết xước da ngực.
    • + Khám trong: Thủng sọ thái dương trái, thủng sọ đỉnh ngữa, rách màng cứng, dập não. Chảy máu dưới màng cứng vùng bán cầu trái. Dập xuất huyết não. Phù não.
  2. Kết luận:
  3. Vết thương sọ não gây thủng xương sọ, rách màng cứng, chảy máu dưới màng cứng, dập xuất huyết não, phù não.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về kiểu gen của nạn nhân Trần Thanh N trên hung khí số 1381/KL-KTHS ngày 20/6/2025 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C5 tại Thành phố Hồ Chí Minh như sau: Dấu vết màu nâu đỏ trên 01 tua vít cần giám định và dấu vết màu nâu đỏ đã khô thu ở hiện trường vụ án đều là máu người, của cùng một nam giới. Kiểu gen của nam giới này trùng với kiểu gen của Trần Thanh N.

Biên bản làm việc giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và UBND xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai thể hiện: Hành vi đánh nhau ở mé đường Quốc lộ 51 (khu vực giao thông và dân cư) dẫn đến hậu quả 01 người chết như đã nêu ở trên của các đối tượng gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang dư luận. Hành vi giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực (đánh nhau bằng tay và bằng hung khí) thể hiện thái độ coi thường pháp luật của các đối tượng. Do đó, chính quyền xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai đề nghị các cơ quan chức năng xử lý các đối tượng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục các đối tượng cũng như thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn C2, bà Trần Thị C3 và bà Nguyễn Thị P đề nghị các bị cáo Đ và T bồi thường số tiền 75.000.000 đồng chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và cấp dưỡng nuôi con nhỏ của nạn nhân Trần Thanh N là cháu Trần Thanh N1 (sinh ngày 10/6/2017) và cháu Trần Thị Phương N2 (sinh ngày 19/01/2022), theo quy định của pháp luật. Hiện gia đình các bị cáo Bùi Trường Đ và Bùi Trường T đã bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho ông Trần Văn C2, bà Trần Thị C3 và bà Nguyễn Thị P (đại diện gia đình nạn nhân Trần Thanh N).

Tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKSĐN-P2 ngày 10/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Bùi Trường Đ và Bùi Trường T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Trường Đ và Bùi Trường T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo Đ thừa nhận bị cáo dùng tua vít đâm bị hại Nguyên chết, bị cáo T thừa nhận có tham gia đánh nhau với ông N và bà P, bị cáo có dùng tay đánh nhiều cái vào người bị hại N. Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội "Giết người" là đúng, không oan sai. Các bị cáo xin lỗi gia đình bị hại.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Khẳng định tại Tòa ngày hôm nay, các bị cáo đã nhận tội, Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội "Giết người" là đúng, không oan sai.

Tình tiết tăng nặng: Không có

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo có nhân thân tốt, là hai anh em ruột với nhau. Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã ra đầu thú. Bị cáo Đ có vai trò chính và là người trực tiếp đâm bị hại dẫn đến việc bị hại tử vong. Bị cáo T tham gia đánh nhau, giữ vai trò giúp sức vì đã đánh bị hại. Hai bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50 triệu đồng. Bị hại cũng có phần lỗi.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Trường Đ mức án 16 đến 18 năm tù, bị cáo Bùi Trường T mức án 10 đến 12 năm tù.

Buộc các bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại theo quy định pháp luật.

Luật sư bào chữa cho các bị cáo trình bày:

Luật sư Lê Duy Á: Về tội danh, điều luật Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo đã sử dụng rượu bia nên không làm chủ được hành vi, nạn nhân chết là ngoài ý muốn của các bị cáo. Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã có lời xin lỗi với gia đình bị hại, bị hại cũng có phần lỗi, các bị cáo đã bồi thường được số tiền 50 triệu đồng. Gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, các bị cáo có nhân thân tốt, đã thành khẩn khai báo. Các bị cáo phạm tội khi bị kích động mạnh do nạn nhân gây ra.

Luật sư Võ Văn C1: Các bị cáo phạm tội do tinh thần bị kích động, mức án Viện kiểm sát đề nghị là quá nặng. Hoàn cảnh gia đình của các bị cáo rất khó khăn. Đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử bị cáo Đ 12 năm tù, bị cáo T 08 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

Vào khoảng 23 giờ 55 phút ngày 01/3/2025 tại lề đường Quốc lộ 51 thuộc ấp G xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai (nay là xã A, tỉnh Đồng Nai). Do có mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày nên bị cáo Bùi Trường T và Bùi Trường Đ (là hai anh em ruột) và vợ chồng ông Trần Thanh N và bà Nguyễn Thị P đã sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn. Bị cáo Đ đã dùng tua vít đâm vào đầu bị hại dẫn đến tử vong, còn T dùng tay đánh bị hại. Hành vi trên của các bị cáo Đ, T đã đủ cơ sở để khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo Đ, T về tội "Giết người" tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

Xét thấy chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày, bị cáo Đ đã dùng tua vít là hung khí nguy hiểm xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe người khác trái pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần xử các bị cáo mức án tương xứng nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Các tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có nhân thân tốt, các bị cáo đã ra đầu thú, các bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 50 triệu đồng.

Phân hóa vai trò của các bị cáo:

Bị cáo Bùi Trường Đ giữ vai trò chính, là người dùng tua vít gây ra cái chết cho bị hại nên phải xử bị cáo Đ mức án cao nhất.

Bị cáo Bùi Trường T giữ vai trò đồng phạm nên bị cáo có mức án thấp hơn bị cáo Đ.

[3] Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện hợp pháp gia đình bị hại đề nghị buộc các bị cáo phải bồi thường các khoản:

Tiền mai táng phí: 75.000.000 đồng.

Tiền tổn thất tinh thần, nuôi con nhỏ của bị hại theo quy định pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Khoản chi phí mai táng 75.000.000 đồng là phù hợp. Số tiền chi phí trên được cha mẹ của nạn nhân chi trả toàn bộ nên buộc các bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho cha mẹ nạn nhân 25.000.000 đồng (Mỗi bị cáo bồi thường 12.500.000 đồng).

Khoản tổn thất tinh thần: Buộc các bị cáo phải bồi thường 80 tháng x 2.340.000 đồng = 187.200.000 đồng. Mỗi bị cáo phải bồi thường 93.600.000 đồng.

Khoản trợ cấp nuôi con nhỏ của bị hại: Bị hại có 02 người con là cháu Trần Thanh N1, sinh ngày 10/6/2017 và cháu Trần Thị Phương N2, sinh ngày 19/01/2022. Buộc bị cáo Bùi Trường Đ phải có trách nhiệm trợ cấp nuôi cháu Trần Thị Phương N2 đến tuổi trưởng thành, mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.000.000 đồng (L4 vùng tối thiểu nơi nạn nhân ở là 3.450.000 đồng). Buộc bị cáo Bùi Trường T phải có trách nhiệm trợ cấp nuôi cháu Trần Thanh N1 đến tuổi trưởng thành, mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng mỗi tháng.

[4] Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 cây tua vít và 02 mảnh gạch vỡ.

[5] Ý kiến và quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Ý kiến của các luật sư bào chữa cho các bị cáo: Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh, điều luật áp dụng và tình tiết giảm nhẹ. Riêng ý kiến của luật sư cho rằng bị cáo phạm tội do hành vi kích động từ phía bị hại gây ra là không có cơ sở.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật, cụ thể như sau:

Án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 5.305.000 đồng.

Đối với Nguyễn Thị P đã bị xử lý 02 năm tù nhưng được hưởng án treo về hành vi "Gây rối trật tự công cộng".

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về áp dụng điều luật và tội danh:
  2. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố các bị cáo Bùi Trường Đ, Bùi Trường T phạm tội "Giết người".

  3. Về hình phạt:
  4. Xử phạt bị cáo Bùi Trường Đ 16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2025.

    Xử phạt bị cáo Bùi Trường T 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2025.

  5. Về trách nhiệm dân sự:
  6. Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 591 Bộ luật dân sự.

    Buộc bị cáo Bùi Trường Đ phải bồi thường cho ông Trần Văn C2, bà Trần Thị C3 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).

    Buộc bị cáo Bùi Trường T phải bồi thường cho ông Trần Văn C2, bà Trần Thị C3 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).

    Buộc bị cáo Bùi Trường Đ phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị P 93.600.000 đồng (Chín mươi ba triệu sáu trăm nghìn đồng).

    Buộc bị cáo Bùi Trường T phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị P 93.600.000 đồng (Chín mươi ba triệu sáu trăm nghìn đồng).

    Buộc bị cáo Bùi Trường Đ phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con bị hại là cháu Trần Thị Phương N2, sinh ngày 19/01/2022 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) và có khả năng lao động, mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 01/3/2025.

    Buộc bị cáo Bùi Trường T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con bị hại là cháu Trần Thanh N1, sinh ngày 10/6/2017 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) và có khả năng lao động, mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 01/3/2025.

  7. Về xử lý vật chứng:
  8. Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 tua vít dài 16 cm, đường kính 02 cm, cán màu vàng có sọc đen bằng nhựa dài 06 cm, đầu tua vít phần kim loại dài 10 cm, mũi vít đầu 3 ke. 01 mảnh gạch vỡ màu đỏ nâu đỏ - xám - trắng kích thước 27 cm x 20 cm x 03 cm. 01 mảnh gạch vỡ màu nâu đỏ - xám - trắng kích thước 11 cm x 07 cm x 03 cm.

    (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản NK25/190 ngày 12/9/2025 Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai)

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của đại diện hợp pháp bị hại, nếu bị cáo chậm thi hành số tiền phải bồi thường nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  9. Về án phí:
  10. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.305.000 đồng (Năm triệu ba trăm lẻ năm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  11. Về quyền kháng cáo:
  12. Bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (2);
  • - Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh (1);
  • - Trại tạm giam số 1 công an tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Phòng Hồ sơ – Công an tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Công an tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Phòng CS Hình sự – Công an tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Thi hành án hình sự Tòa án tỉnh Đồng Nai (4);
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Bị cáo (2);
  • - Luật sư (2);
  • - Người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Nam Phương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán

................................

Thẩm phán

Chủ toạ phiên toà

Hoàng Thị Thu Minh

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 265/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về giết người

  • Số bản án: 265/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Trường Đạt và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger