|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 265/2025/DS-ST
Ngày: 27/9/2025
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CẦN THƠ
Với thành phầm Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Ánh
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Mai Hồng
- Bà Nguyễn Ngọc Liên
-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ.
Vào ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 189/2025/TLST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 632/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 210/2025/QĐST-DS, ngày 11 tháng 9 năm 2025; Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V.
Trụ sở: Số H L, phường Đ, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên hệ: Tầng C, số C N, phường C, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L, chức vụ: Giám đốc TT THN KHDN và XLNPL; Ông Phạm Tuấn A, chức vụ: Phó GĐ TT THN KHDN và XLNPL; Ông Đỗ Thành T, chức vụ: Phó GĐ TT THN KHDN và XLNPL; Ông Nguyễn Minh B, chức vụ: Trưởng Phòng XLN KHDN Miền Bắc 1 - TT THN KHDN và XLNPL; Ông Lê Đức L1, chức vụ: Trưởng Phòng XLN KHDN Miền Bắc 2 - TT THN KHDN và XLNPL; Ông Vũ Ngọc Q, chức vụ: Trưởng Phòng XLN KHCN Miền Bắc 1 - TT THN KHDN và XLNPL.(Theo Văn bản ủy quyền số: 16/2025/UQN-CTQT ngày 24/4/2024 của Chủ tịch HĐQT V1).
Đại diện theo ủy quyền lại của ông Đỗ Thành T: Ông Nguyễn Thanh T1, chức vụ: Chuyên viên XLN (Vắng mặt); Ông Lê Bằng P, chức vụ: Chuyên viên XLN (Vắng mặt); Ông Nguyễn Hoàng T2, chức vụ: Chuyên viên XLN (Vắng mặt);
Ông Nguyễn Thành Đ, chức vụ: Chuyên viên XLN (Có mặt); Cùng địa chỉ liên hệ như trên. (Theo Văn bản ủy quyền số: 174/2025/UQ-VPB ngày 11/8/2025 của V1)
- Bị đơn: Bà Lâm Ngọc T3, sinh năm: 1985; CCCD số: [...];
Đăng ký thường trú: Số B M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Nay là số B M, phường C, thành phố Cần Thơ). (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và bản tự khai đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (V1) (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày: Vào ngày 04/10/2022, Ngân hàng có ký hợp đồng tín dụng loại sử dụng thẻ tín dụng bao gồm giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ thỏa thuận các điều khoản sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng với bà Lâm Ngọc T3 để cấp hạn mức tín dụng là 33.000.000 đồng, hợp đồng số LN2210046967548; Với thời hạn vay là 60 tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân và phải có nghĩa vụ thanh toán nạp tiền trả lại. Sau khi được cấp thẻ bà T4 đã bắt đầu giao dịch từ ngày 04/10/2022 và đã thực hiện các giao dịch rút tiền ra sử dụng; Thỏa thuận lãi suất tại thời điểm cấp thẻ là 47,88%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 11/02/2024, toàn bộ khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn;
Tính đến ngày 27/9/2025 bà T3 còn nợ thẻ tín dụng số tiền là 71.076.698 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 32.499.262 đồng; Nợ lãi quá hạn là 38.577.436 đồng).
Số nợ lãi quá hạn được tính từ ngày 11/02/2024 đến ngày 27/9/2025 là 150% của lãi suất trong hạn 47,88%/năm.
Nay Ngân hàng yêu cầu bà T3 phải trả nợ gốc, lãi như trên và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi bà T3 trả xong nợ cho Ngân hàng.
- Đối với bị đơn bà Lâm Ngọc T3 trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án xét xử, quyết định hoãn phiên tòa bằng phương thức niêm yết tại nơi đăng ký thường trú của bà T3, nhưng bà T3 vẫn vắng mặt không lý do, nên không tiến hành thu thập được lời khai.
Tại phiên tòa,
- Đại diện Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V yêu cầu bị đơn bà Lâm Ngọc T3 phải trả nợ gốc, lãi tạm tính đến ngày 27/9/2025 là 71.076.698 đồng, đồng thời yêu cầu bà T3 tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng cho đến khi trả nợ xong ở giai đoạn thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Xét về quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Đối với bị đơn bà Lâm Ngọc T3 căn cứ CMND/CCCD thể hiện đăng ký thường trú tại số B, M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (nay là số B, M, phường C, thành phố Cần Thơ). Địa chỉ này cũng được ghi trong hợp đồng tín dụng. Nên Tòa án đã tiến hành tống đạt bằng phương thức niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại Khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đương sự vẫn vắng mặt. Nên căn cứ Đ1 b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.
Do bị đơn cư trú tại quận N, thành phố Cần Thơ nay là phường C, thành phố Cần Thơ; Căn cứ Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án khu vực và quy định phạm vi thẩm quyền lãnh thổ, nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ theo quy định tại Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15, ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc Hội có hiệu lực ngày 01/7/2025.
[2]. Qua yêu cầu của nguyên đơn Hội đồng xét xử, xét thấy:
Căn cứ vào giấy đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức tín dụng thẻ giữa nguyên đơn và bị đơn mục đích vay là tiêu dùng cá nhân, chỉ có một bên có mục đích lợi nhuận và có đăng ký kinh doanh, nên khi phát sinh tranh chấp căn cứ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thụ lý vụ án dân sự để giải quyết. Tuy nhiên đây quan hệ vay nợ giữa ngân hàng với cá nhân, nên luật nội dung để giải quyết là Luật các tổ chức tín dụng, theo hướng dẫn tại Điều 4 Bộ luật dân sự năm 2015.
Qua yêu cầu của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn Ngân hàng khởi kiện bà Lâm Ngọc T3 về việc đòi nợ trong hợp đồng tín dụng đã cung cấp được bản sao Giấy đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức tín dụng thẻ; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Bản sao CMND/CCCD, bảng sao kê quá trình sử dụng thẻ của bị đơn đã sử dụng. Mặt khác trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa về việc Ngân hàng khởi kiện đòi nợ bà T3 với số nợ nêu trên, tại ngay địa chỉ bà T3 đăng ký thường trú vào thời điểm bà T3 ký kết hợp đồng mở thẻ tín dụng, nhưng bà T3 cũng không phản đối gì, nên đây là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó mặc dù không thu thập được lời khai của bà Lâm Ngọc T3, nhưng với những chứng cứ trên có đủ cơ sở xác định bà Lâm Ngọc T3 có sử dụng vốn vay tại thẻ tín dụng của Ngân hàng và chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ khi đến hạn, nên nay Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả nợ là có cơ sở chấp nhận.
Đối với yêu cầu tính lãi và mức lãi suất. Theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và nay là Điều 100 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 có quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng”. Xét thấy căn cứ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng các bên đều có thỏa thuận trong hợp đồng về mức lãi suất là 47,88% /năm và thỏa thuận lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Tại phiên tòa hôm nay phía nguyên đơn cũng đã cung cấp bảng tính lãi quá hạn đến ngày 27/9/2025, do đó việc yêu cầu lãi của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.
Cụ thể bà Lâm Ngọc T3 phải có trách nhiệm trả như sau :
- - Nợ gốc: 32.499.262 đồng;
- - Nợ lãi: 38.577.436 đồng (Lãi quá hạn tính từ ngày 11/02/2024 cho đến nay là ngày 27/9/2025 với mức lãi suất 71,82%/năm);
- Tổng cộng gốc, lãi là: 71.076.698 đồng.
[3].Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; được sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15, ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc Hội có hiệu lực ngày 01/7/2025;
- - Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng 2010; được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Điều 100; Điều 103; Điều 107 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V;
- - Buộc bị đơn bà Lâm Ngọc T3 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ gốc, lãi là 71.076.698 đồng (Bảy mươi mốt triệu, không trăm bảy mươi sáu ngàn, sáu trăm chín mươi tám đồng) và phải chịu lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng tính từ ngày 28/9/2025 cho đến khi trả nợ xong.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn bà Lâm Ngọc T3 phải nộp án phí là 3.553.800 đồng (Ba triệu, năm trăm năm mươi ba ngàn, tám trăm đồng, tính tròn).
- Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V được nhận lại tiền tạm ứng án phí 1.873.000 đồng (Một triệu, tám trăm bảy mươi ba ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002227, ngày 15/8/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa BÙI XUÂN ÁNH |
Bản án số 265/2025/DS-ST ngày 27/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 265/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng VP bank với Lâm Ngọc T3
