|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 260/2025/HS-ST Ngày: 20/11/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương.
Thẩm phán: Bà Phạm Thị Xuân Đào.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hương.
Ông Nguyễn Văn Chiến.
Ông Hoàng Minh Liêm.
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Hải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 249/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 277/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Dương Thị Hồng T. Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: Đẹt. Sinh năm 1988 tại:
Đồng Nai. Nơi cư trú: 173, tổ H, ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai). Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán. Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Trình độ học: 12/12. Con ông Dương Văn S, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966. Có chồng: Đã li hôn năm 2024. Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 04/4/2024 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 15 năm tù giam về tội “Tham ô tài sản” theo Bản án số 49/2024/HS-ST.
- - Ngày 05/5/2025, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai) tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 252/2025/HSST.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/5/2025 tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ.
Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo: Luật sư Nguyễn Thanh T1 – Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: A, tổ C, khu phố F, phường T, thành phố B (nay là khu phố P, phường T), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 0939 926 333
- Bị hại: Công ty TNHH Ô.
Địa chỉ: Số B Xa lộ H, khu phố E, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo pháp luật: Lê Thị Hồng H1. SĐT: 0913 787 051
- Người làm chứng:
- Nguyễn Trần Thị Thúy H2, sinh năm 1988.
- Cao Thị Kim P, sinh năm 1990.
Địa chỉ: A, khu phố F, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 0933 750 792
Địa chỉ: tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 0974 888 312
(Bị cáo, luật sư, đại diện bị hại, người làm chứng có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH Ô, địa chỉ số B, Xa lộ H, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai), được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu số 3600930637 ngày 12/10/2007, đăng ký thay đổi lần thứ sáu ngày 22/11/2024 – Ngành nghề kinh doanh: bán lẽ xe ô tô - Người đại diện theo pháp luật là bà Lê Thị Hồng H1, sinh năm 1979, địa chỉ 119, tổ A, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Dương Thị Hồng T là nhân viên kế toán của Công ty TNHH Ô, có hợp đồng lao động từ năm 2020. Đến tháng 5/2021, do thiếu thu ngân nên T được công ty TNHH V lại Hợp đồng lao động số 980/HĐLĐ ngày 03/5/2021, giao thêm nhiệm vụ thủ quỹ (Kế toán thanh toán/Kế toán quản trị) và thực hiện các công việc khác theo yêu cầu của quản lý hoặc Ban Giám đốc, (bút lục 322 – 324). Nhiệm vụ được giao: Lập ủy nhiệm chi, nhận nợ, làm việc trực tiếp với ngân hàng; lập phiếu thu và thu tiền khách hàng, lập phiếu chi và thực hiện chi tiền khi có lệnh; tổng kết tồn quỹ tiền mặt cuối ngày; kiểm tra chi phí, đề nghị thanh toán của các bộ phận và các công việc khác được giao từ quản lý trực tiếp hoặc Ban Giám đốc.
Từ tháng 12/2023 đến tháng 05/2024, do đầu tư tiền ảo trên mạng bị thua lỗ, Dương Thị Hồng T đã lợi dụng quyền hạn được giao chiếm đoạt số tiền công nợ của khách hàng thanh toán cho công ty Ô với phương thức thủ đoạn thực hiện như sau: khi khách hàng thanh toán tiền theo hợp đồng mua ô tô bằng tiền mặt, T in phiếu thu giao cho khách hàng đúng với số tiền thu thực tế, sau đó in lại phiếu thu khác ghi giảm số tiền thực tế đã thu của khách hàng, giả chữ ký của khách hàng trên Phiếu thu đó để nộp về Công ty Ô hợp thức hóa về mặt chứng từ hoặc khi khách hàng thanh toán tiền bằng tiền mặt theo hợp đồng, T in phiếu thu giao cho khách hàng đúng với số tiền khách hàng đã thanh toán sau đó hủy phiếu thu không báo cáo về Công ty nhằm chiếm đoạt phần tiền chênh lệch và số tiền đã thu của khách hàng. Quá trình chiếm đoạt, để không bị Công ty Ô phát hiện, Dương Thị Hồng T đã hợp thức hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý tài chính của doanh nghiệp (phần mềm BRAVO), cụ thể: T sử dụng tài khoản “THAMDTH”, mã nhân viên: NV-053 thực hiện nghiệp vụ kế toán điều chỉnh công nợ của Công ty với những khách hàng khác đã đặt cọc nhưng chưa tới đợt nhận xe, bút toán chuyển phần công nợ đang treo bù vào số tiền chênh lệch mà T đã chiếm đoạt trong ngày nhằm mục đích làm cho hệ thống quản lý tài chính báo cáo dữ liệu khách hàng thanh toán trùng khớp với số tiền khách hàng thực trả.
Bằng thủ đoạn như trên, từ tháng 12/2023 đến tháng 05/2024, Dương Thị Hồng T đã nhiều lần chiếm đoạt tiền mà khách hàng thanh toán cho Công ty Ô với tổng số tiền 2.161.400.000 đồng (hai tỷ một trăm sáu mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng), cụ thể như sau:
- - Ngày 20/12/2023, thực thu 80.000.000 đồng của khách hàng theo Hợp đồng mua bán 0115, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 10.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 70.000.000 đồng.
- - Ngày 29/12/2023, thực thu 150.000.000 đồng của khách hàng theo Hợp đồng mua bán 0118, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 100.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 50.000.000 đồng.
- - Ngày 20/02/2024, thực thu 171.000.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 0151, hủy phiếu thu không báo cáo về công ty để chiếm đoạt số tiền 171.000.000 đồng.
- - Ngày 28/02/2024, thực thu 30.000.000 đồng do khách hàng đặt cọc xe, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 10.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 20.000.000 đồng.
- - Ngày 01/3/2024, thực thu 20.000.000 đồng của khách hàng thanh toán lầm 3 theo Hợp đồng mua bán 0120, hủy phiếu thu không báo cáo về công ty để chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng.
- - Ngày 02/3/2024, thực thu 293.500.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 0154, báo cáo thu về 273.500.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 20.000.000 đồng.
- - Ngày 04/3/2024, thực thu 24.000.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 0157, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 14.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 10.000.000 đồng.
- - Ngày 09/3/2024, thực thu 277.000.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 0159, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 267.000.000 triệu đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 10.000.000 đồng.
- - Ngày 11/3/2024, thực thu 51.000.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 0163, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 41.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 10.000.000 đồng.
- - Ngày 19/3/2024, thực thu 80.000.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 0178, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 70 triệu đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 10.000.000 đồng.
- - Ngày 21/3/2024, thực thu 51.000.000 đồng của khách hàng thanh toán tiền mua xe, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 41.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 10.000.000 đồng.
- - Ngày 22/3/2024, thực thu 176.000.000 đồng của khách hàng thanh toán tiền mua xe theo hợp đồng 2706/SU, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 166.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 10.000.000 đồng.
- - Ngày 23/3/2024, thực thu 180.000.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 2709, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 170.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 10 triệu đồng.
- - Ngày 25/3/2024, thực thu 66.100.000 triệu đồng của khách hàng thanh toán tiền mua xe theo hợp đồng 0174/SUBH, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 54.100.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 12.000.000 đồng.
- - Ngày 28/3/2024, thực thu 171.000.000 triệu đồng của khách hàng thanh toán tiền mua xe theo hợp đồng 0191/SUBH, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 71.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 100.000.000 đồng.
- - Ngày 28/3/2024, thực thu 87.000.000 đồng của khách hàng thanh toán tiền mua xe theo hợp đồng 0161, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 37.000.0000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 50.000.000 đồng.
- - Ngày 01/4/2024, thực thu 75.000.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 0193/SUBH, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 55.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 20.000.000 đồng.
- - Ngày 05/4/2024, thực thu 230.000.000 đồng do khách hàng đặt cọc xe, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 160.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 70.000.000 đồng.
- - Ngày 08/4/2024, thực thu 132.000.000 đồng theo Hợp đồng 0312024, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 119.100.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 12.900.000 đồng.
- - Ngày 08/4/2024, thực thu 228.000.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 2711/SU, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 178.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 50.000.000 đồng.
- - Ngày 12/4/2024, thực thu 170.000.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 0209/SUBH, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 50.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 120.000.000 đồng.
- - Ngày 15/4/2024, thực thu 310.000.000 đồng do khách hàng đặt cọc xe, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 10.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 300.000.000 đồng.
- - Ngày 20/4/2024, thực thu 62.200.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 2710/SU, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 2.200.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 60 triệu đồng.
- - Ngày 25/4/2024, thực thu 85.000.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 0187/SUBH, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 25.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 60.000.000 đồng.
- - Ngày 02/5/2024, thực thu 102.000.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 2713/SU, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 2.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 100.000.000 đồng.
- - Ngày 08/5/2024, thực thu 362.500.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 2724/SU, hủy phiếu thu không báo cáo về công ty để chiếm đoạt số tiền 362.500.000 đồng.
- - Ngày 09/5/2024, thực thu 5.000.000 đồng do khách hàng đặt cọc xe, hủy phiếu thu không báo cáo về công ty để chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng.
- - Ngày 16/5/2024, thực thu 275.000.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 2728/SU, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 5.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 270.000.000 đồng.
- - Ngày 21/5/2024, thực thu 314.000.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 2724/SU, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 214.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 100.000.000 đồng.
- - Ngày 25/5/2024, thực thu 320.000.000 đồng theo Hợp đồng mua bán 0240, làm lại phiếu thu báo cáo về công ty số tiền thu của khách hàng là 272.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền chênh lệch 48.000.000 đồng.
Tổng cộng 30 lần bị cáo chiếm đoạt 2.161.400.000 đồng (Hai tỷ một trăm sáu mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng). Gia đình bị cáo đã trả được 520.000.000 đồng, bị cáo còn chiếm đoạt 1.641.400.000 đồng.
Toàn bộ số tiền chiếm đoạt, Dương Thị Hồng T đã sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân và đầu tư tiền ảo trên mạng hết. Đến ngày 28/5/2024, do số tiền chiếm đoạt ngày càng nhiều, số tiền “treo” công nợ của khách hàng không thể cân đối được nữa nên Dương Thị Hồng T đã chủ động báo cáo với Lãnh đạo Công ty Ô toàn bộ hành vi chiếm đoạt tiền khách hàng thanh toán công nợ cho công ty nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH Ô yêu cầu Dương Thị Hồng T phải tiếp tục hoàn trả lại công ty số tiền 1.641.400.000 đồng (một tỷ sáu trăm bốn mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng) mà T đã chiếm đoạt của Công ty.
Tại bản Cáo trạng số 125/CT-VKSĐN-P3 ngày 30/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Dương Thị Hồng T về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4, khoản 6 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Thị Hồng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận đã chiếm đoạt tổng số tiền là 2.161.400.000 đồng, gia đình bị cáo đã trả được 520.000.000 đồng, còn lại 1.641.400.000 đồng. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội "Tham ô tài sản" tại khoản 4 Điều 353 Bộ luật hình sự là đúng, không oan sai.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã rõ, tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, đã có đủ cơ sở để khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo về tội "Tham ô tài sản" số tiền 2.161.400.000 đồng nên phạm vào khoản 4 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, đã bồi thường một phần cho bị hại.
Tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 20 năm tù.
Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 1.641.400.000 đồng (Một tỷ sáu trăm bốn mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng).
Luật sư bào chữa theo chỉ định cho bị cáo trình bày:
Luật sư thống nhất tội danh, điều luật Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo đã tự thú, thành khẩn khai báo, đã trả lại một phần cho bị hại. Bị cáo có con còn nhỏ, bị hại cũng đã xin giảm nhẹ cho bị cáo. Như vậy bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ là tự thú, thành khẩn khai báo, đã bồi thường cho bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Dương Thị Hồng T là nhân viên kế toán kiêm thủ quỹ của Công ty TNHH Ô, địa chỉ số B, Xa lộ H, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai). Từ tháng 12/2023 đến tháng 05/2024, lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao thu tiền trực tiếp từ khách hàng, lập phiếu thu, nhận nợ và tổng kết quỹ tiền mặt cuối ngày chuyển về Công ty, Dương Thị Hồng T đã nhiều lần thu tiền của khách hàng sau đó làm giả các phiếu thu có số tiền thấp hơn số tiền khách hàng thực tế đã thanh toán báo cáo gửi về công ty hoặc sau khi thu tiền của khách hàng nhưng không báo cáo về công ty nhằm chiếm đoạt số tiền khách hàng thanh toán cho công ty Ô mà T có trách nhiệm quản lý, tổng số tiền chiếm đoạt là 2.161.400.000 đồng (hai tỷ một trăm sáu mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng).
Đã có đủ cơ sở để khẳng định Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo T về tội "Tham ô tài sản" là đúng pháp luật. Số tiền chiếm đoạt là 2.161.400.000 đồng nên phạm vào điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm và chiếm đoạt số tiền rất lớn của Công ty TNHH Ô, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần xử lý bị cáo mức án nghiêm.
Bị cáo có nhân thân rất xấu, bị cáo đã bị xét xử với mức án 15 năm tù về tội "Tham ô tài sản" xảy ra tại Công ty TNHH T2. Đến tháng 5/2020, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội "Đánh bạc" bị xử phạt 03 năm 06 tháng tù (tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 18 năm 06 tháng tù, bị cáo chưa chấp hành án). Vậy nên khi xét xử cần tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.
Khi lượng hình phạt cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên.
Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, bị cáo đã bồi thường khắc phục được 520.000.000 đồng tiền chiếm đoạt, bị cáo đã ra đầu thú nên được áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo tiếp tục trả cho Công ty TNHH Ô số tiền 1.641.400.000 đồng.
[4] Xử lý vật chứng:
Vật chứng, tài sản tạm giữ: Không.
[5] Ý kiến và quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Quan điểm luật sư thống nhất về tội danh, điều luật cũng như tình tiết giảm nhẹ. Riêng luật sư đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tự thú không được chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 61.242.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về áp dụng điều luật và tội danh:
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 56 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Dương Thị Hồng T phạm tội "Tham ô tài sản".
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Dương Thị Hồng T mức án 18 (Mười tám) năm tù về tội “Tham ô tài sản”. Tổng hợp hình phạt 18 (Mười tám) năm 06 (Sáu) tháng tù tại Bản án số 252/2025/HSST ngày 05/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 30 (Ba mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2025.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 589, 468 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Dương Thị Hồng T phải bồi thường cho Công ty TNHH Ô số tiền 1.641.400.000 đồng (Một tỷ sáu trăm bốn mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của đại diện hợp pháp bị hại, nếu bị cáo chậm thi hành số tiền phải bồi thường nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 61.242.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Nam Phương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Thẩm phán ................................ |
Thẩm phán Chủ toạ phiên toà Hoàng Thị Thu Minh |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
|
Bản án số 260/2025/HS-ST ngày 20/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tham ô tài sản
- Số bản án: 260/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thị Hồng Thắm
