Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 258/2025/HS-PT

Ngày: 29/09/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Thu Hằng.

Các Thẩm phán: bà Vũ Ngọc Hà và ông Lê Trúc Lâm.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lê Hải Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: ông Biện Tấn Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 09 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk (cơ sở B số E L, phường T, tỉnh Đắk Lắk), xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 202/2025/TLPT- HS, ngày 30/07/2025 đối với bị cáo Trần Trung T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

* Bị cáo có kháng cáo:

Trần Trung T, sinh ngày 29/02/2000, nơi ĐKHKTT: 8 N, Phường F, TP ., tỉnh Phú Yên (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) chỗ ở hiện nay: khu phố N, phường T, tỉnh Đắk Lắk; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 07/12; con ông Trần Thanh L, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1976; bị cáo có 01 em sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/08/2024 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 09/8/2024, Tổ tuần tra Công an huyện P phát hiện Trần Trung T và Phạm Văn C đang đi bộ trên đường Đ thuộc thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên có biểu hiện nghi vấn nên mời T và C về trụ sở Công an xã H làm việc, tuy nhiên T không chấp hành bỏ chạy, còn C qua làm việc thì phát hiện trong túi áo khoác của C có một ống nhựa hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma tuý đá (ký hiệu A) nên Tổ tuần tra Công an huyện P đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. C khai đây là ma tuý T đưa cho C để khi có người liên hệ mua ma tuý thì C đi giao ma tuý cho T.

Cùng ngày, khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Trung T ở khu phố N, Phường A, TP ., tỉnh Phú Yên, cơ quan điều tra thu giữ: 01 cân tiểu ly, 04 bình ga mini Namilux, 03 cái kéo, 02 bật lửa ga, 02 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 ống nhựa hàn kín một đầu bên trong có bám dính tinh thể màu trắng (ký hiệu A1, A2), 01 đoạn ống thuỷ tinh, 01 hộp giấy kích thước (20,5x10,5x5) cm bên trong có nhiều ống nhựa, 05 ống thuỷ tinh dạng nỏ, 22 ống thuỷ tinh tròn thẳng là các dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý và chia nhỏ ma tuý để bán.

Tại Bản kết luận giám định số 351 và 352/KL-KTHS cùng ngày 14/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận: tinh thể màu trắng trong bì nilon trong suốt hàn kín (Ký hiệu A) do Cơ quan CSĐT Công an huyện P gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,206g (không phẩy hai không sáu gam), loại Methamphetamine và tinh thể màu trắng bám dính trong bì nilon trong suốt (Ký hiệu A1) gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,002g (Không phẩy không không hai gam), loại Methamphetamine. Tinh thể màu trắng bám dính trong đoạn ống thủy tinh trong suốt (Ký hiệu A2) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, vì lượng bám dính ít nên không xác định được khối lượng.

Quá trình mở rộng điều tra xác định Trần Trung T là đối tượng cầm đầu, mua ma tuý về rồi phân lẻ bán lại cho các con nghiện, khi có người cần mua ma tuý thì liên lạc với T qua Zalo “Py Đỏ”, số điện thoại 0376.786.xxx hoặc tài khoản messenger “Trần Trung T”, T là người trực tiếp đi giao ma tuý hoặc đưa ma tuý cho bị cáo C đi giao cho người mua, người mua sẽ giao tiền trực tiếp hoặc chuyển khoản qua tài khoản số 0898498748 của ngân hàng M1 hoặc ví điện tử momo số tài khoản 0898498748 và 0376786724 đứng tên chủ tài khoản của bị cáo T. Từ tháng 12/2023 đến ngày 08/8/2024 T và C đã nhiều lần bán ma tuý cho các đối tượng, cụ thể:

- Trần Trung T, Phạm Văn C bán ma túy cho Phạm Ngọc P 03 lần:

Lần thứ nhất: khoảng giữa tháng 7/2024, P gọi điện thoại qua M cho Trần Trung T thỏa thuận bán một cái 3 ma túy đá với giá 300.000đ, T đồng ý hẹn P nhận ma túy ở Gò gần nhà T, T đưa C 01 bì nilon bên trong có ma túy đá bảo C đem ra G để giao cho P rồi P chuyển khoản số tiền 300.000đ vào số tài khoản 0898498748 mở tại ngân hàng M2 của Trần Trung T.

Lần thứ hai: vào ngày 20/7/2024, P gọi điện thoại qua M cho Trần Trung T hỏi mua 300.000đ ma túy đá thì T đồng ý và hẹn P đến tại Gò gần nhà T để nhận ma túy, sau đó T đưa cho C 01 bì nilon màu trắng bên trong có chứa ma túy đá bảo C đem ra Gò để giao, gặp P thì C giao bì ma túy rồi P chuyển khoản số tiền 300.000đ vào số tài khoản 0898498748 mở tại ngân hàng M2 của Trần Trung T.

Lần thứ ba: vào ngày 05/8/2024, P gọi điện thoại qua M cho Trần Trung T hỏi mua 300.000đ ma túy đá thì T đồng ý và hẹn P đến tại Gò gần nhà T để nhận ma túy, sau đó T đưa cho C 01 bì nilon màu trắng bên trong có chứa ma túy đá bảo C đem ra Gò để giao, gặp P thì C giao bì ma túy rồi P chuyển khoản số tiền 300.000đ vào số tài khoản 0898498748 mở tại ngân hàng M2 của Trần Trung T.

- Trần Trung T, Phạm Văn C bán ma túy cho Kiều Văn H 04 lần:

Lần thứ nhất: khoảng cuối tháng 5 năm 2024, Kiều Văn H gọi điện thoại qua M cho Trần Trung T để hỏi mua ma túy đá với giá 400.000 đồng, T đồng ý hẹn Học đến gần trường tiểu học Đ thuộc phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên để giao ma túy, tại đây gặp T đi đến gần chỗ H đứng và ném 01 bì nilon bên trong có ma túy đá dưới đất rồi Tín chỉ cho H, khi lấy được bì ma túy đá H đưa tiền mặt cho T số tiền 400.000đ rồi đem về nhà tại thôn Đ, xã H, TP T, Phú Yên để sử dụng một mình.

Lần thứ hai: vào ngày 27/7/2024, Kiều Văn H gọi điện thoại qua M cho Trần Trung T để hỏi mua ma túy đá cái hai với giá 200.000đ thì T đồng ý hẹn H đến Gò gần nhà T để nhận ma túy, T đem 01 bì nilon có chứa ma túy giao cho H, H đưa tiền mặt 100.000đ hẹn nợ 100.000đ sẽ chuyển khoản sau, H cầm trên tay và điều khiển xe mô tô chạy về nhà tại thôn Đ, xã H, huyện P để sử dụng một mình. Lúc 04h16’ ngày 28/7/2024 Học chuyển khoản số tiền 100.000đ vào tài khoản Momo số 0376786724 của Trần Trung T.

Lần thứ ba: khoảng 01h23’ ngày 02/8/2024, Trần Trung T gọi điện thoại qua M cho Kiều Văn H để mượn tiền nộp game rồi khi nào mua ma túy trừ sau thì H đồng ý, H chuyển khoản vào tài khoản Momo số 0898498748 của T số tiền 150.000đ. Trưa ngày 03/8/2024, H gọi điện thoại qua M cho T để hỏi mua ma túy đá cái hai với giá 200.000đ Tín đồng ý bán hẹn Học đến khu gò Mã gần nhà T thuộc N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên để nhận ma túy, H đứng đợi thì có Phạm Văn C đến giao 01 bì nilon ma túy đá, H đưa cho C 50.000đ tiền mặt. Khoảng 18 giờ 00’ cùng ngày H tiếp tục gọi điện thoại qua M cho Trần Trung T để hỏi mua ma túy đá với giá 300.000đ T đồng ý bán và hẹn Học đến khu gò Mã gần nhà T để nhận ma túy, H đi đến điểm hẹn đợi, C đi bộ đến giao bì ma túy cho H, H đưa 150.000đ tiền mặt rồi chuyển khoản số tiền 150.000đ vào tài khoản Momo 0898498748 của Trần Trung T.

Lần thứ tư: khoảng 21h00’ ngày 06/8/2024 H gọi điện thoại qua M của Trần Trung T để hỏi mua ma túy đá nhưng T không nghe máy nên H đi đến nhà T. Lúc này, C đang ở nhà T gặp H, H yêu cầu C bán 200.000đ ma túy đá thì C đồng ý và hẹn H đến khu gò Mã gần nhà T đợi. Khoảng 10 phút sau thì C đi bộ lại gần rồi giao bì nilon ma túy cho H, H thấy trong bì ít ma túy đá nên mặc cả với C số tiền mua là 150.000đ thì C đồng ý, H lấy lý do không có mạng để chuyển khoản về nhà tôi chuyển sau. Sau khi đem về nhà tôi sử dụng một mình, H không trả tiền mua ma túy cho C.

- Trần Trung T bán ma túy cho Trần Thị Mỹ V 04 lần:

Lần thứ nhất: vào ngày 11/4/2024, Trần Thị Mỹ V gọi điện thoại qua M cho Trần Trung T hỏi mua 300.000đ ma túy đá thì T đồng ý bán hẹn V đến Gò gần nhà T để giao ma túy, V đi đến điểm hẹn giao ma túy thì T đến giao cho V 01 bì nilon bên trong có ma túy đá, V chuyển khoản số tiền 300.000đ vào tài khoản 0898498748 mở tại ngân hàng M2 của Trần Trung T.

Lần thứ hai: vào ngày 14/5/2024, Trần Thị Mỹ V gọi điện thoại qua M cho Trần Trung T hỏi mua 250.000đ ma túy đá thì T đồng ý bán và hẹn giao ma túy ở gần nhà nghỉ S gần đường rẽ vào nhà T, V đi đến điểm hẹn giao ma túy thì T đến giao cho V 01 bì nilon bên trong có ma túy đá rồi V chuyển khoản số tiền 250.000đ vào tài khoản 0898498748 mở tại ngân hàng M2 của Trần Trung T.

Lần thứ ba: vào ngày 22/5/2024, Trần Thị Mỹ V gọi điện thoại qua M cho Trần Trung T hỏi mua 300.000đ ma túy đá thì T đồng ý bán hẹn V đến Gò gần nhà T để giao ma túy, V đi đến điểm hẹn giao ma túy thì T đến giao cho V 01 bì nilon bên trong có ma túy đá, V chuyển khoản số tiền 300.000đ vào tài khoản 0898498748 mở tại ngân hàng M2 của Trần Trung T.

Lần thứ tư: vào ngày 08/7/2024, Trần Thị Mỹ V có gọi điện thoại đến tài khoản Messenger “Trần Trung T” của T để liên hệ mua ma túy đá “cái 3” giá 300.000đ và hẹn đến Gò gần nhà T để nhận ma túy, V đến điểm hẹn thì T đi bộ đến giao 01 bì nilon ma túy đá rồi V chuyển khoản số tiền 300.000đ vào tài khoản 0898498748 mở tại ngân hàng M2 của Trần Trung T.

- Trần Trung T bán ma túy cho Bùi Thị P1 Khoa 05 lần:

Lần thứ nhất: vào khoảng 01h00’ ngày 16/12/2023 K gọi điện thoại cho Trần Trung T hỏi mua “cái 3” ma túy đá với giá 300.000đ thì T đồng ý. K sử dụng tài khoản Momo số 01692952796 chuyển khoản đến tài khoản Momo số 0376786724 số tiền 300.000đ. Sau đó, T đem bì nilon bên trong có chứa ma túy đá đến 2 L, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên giao ma túy cho K.

Lần thứ hai: vào khoảng 19h00’ ngày 14/01/2024 K gọi điện thoại cho Trần Trung T hỏi mua ma túy đá với giá 250.000đ thì T đồng ý. K sử dụng tài khoản Momo số 01692952796 chuyển khoản đến tài khoản Momo số 0376786724 số tiền 250.000đ. Sau đó, T đem bì nilon bên trong có chứa ma túy đá đến 2 L, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên giao ma túy cho K.

Lần thứ ba: vào khoảng 14h00’ ngày 15/01/2024, K gọi điện thoại cho Trần Trung T hỏi mua ma túy đá với giá 300.000đ thì T đồng ý. K sử dụng tài khoản Momo số 01692952796 chuyển khoản đến tài khoản Momo số 0376786724 số tiền 300.000đ. Sau đó, T đem bì nilon bên trong có chứa ma túy đá đến 2 L, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên giao ma túy cho K.

Lần thứ tư: vào khoảng 18h00’ ngày 16/01/2024, K gọi điện thoại cho Trần Trung T hỏi mua ma túy đá với giá 200.000đ thì T đồng ý. K sử dụng tài khoản Momo số 01692952796 chuyển khoản đến tài khoản Momo số 0376786724 số tiền 200.000đ. Sau đó, T đem bì nilon bên trong có chứa ma túy đá đến 2 L, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên giao ma túy cho K.

Lần thứ năm: vào khoảng 13h10’ ngày 12/02/2024, K gọi điện thoại cho Trần Trung T hỏi mua ma túy đá với giá 300.000đ thì T đồng ý. K sử dụng tài khoản Momo số 01692952796 chuyển khoản đến tài khoản Momo số 0376786724 số tiền 300.000đ. Sau đó, T đem bì nilon bên trong có chứa ma túy đá đến 2 L, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên giao ma túy cho K.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 21/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên (nay là TAND Khu vực 13 – Đắk Lắk) đã quyết định: tuyên bố bị cáo Trần Trung T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; khoản 2, 3 Điều 35 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Trung T 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/8/2024. Hình phạt bổ sung: phạt bị cáo Trần Trung T số tiền 10.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước. Biện pháp tư pháp khác: buộc bị cáo Trần Trung T phải nộp số tiền 4.500.000đ do thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/7/2025, bị cáo Trần Trung T có đơn kháng cáo với nội dung nhận tội mua bán trái phép chất ma túy, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi, hậu quả của bị cáo và cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử Trần Trung T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; khoản 2, 3 Điều 35 và Điều 38 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là thỏa đáng. Bị cáo kháng cáo nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt là tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm chưa được áp dụng tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm về hình phạt, giảm mức hình phạt cho bị cáo từ 08 năm 06 tháng – 08 năm 09 tháng tù.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận gì; lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, ăn năn hối cải về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại đơn kháng cáo bị cáo Trần Trung T khai nhận tội mua bán trái phép chất ma túy, lời khai của bị cáo T phù hợp với lời khai của bị cáo Phạm Văn C tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Từ tháng 12/2023 đến tháng 8/2024 Trần Trung T và Phạm Văn C mua ma tuý của một số người không rõ họ tên, địa chỉ để sử dụng và bán lại cho Bùi Thị P1 Khoa 05 lần, Trần Thị Mỹ V 04 lần, Kiều Văn H 04 lần, Phạm Ngọc P 03 lần và một số đối tượng khác không rõ họ tên, địa chỉ để kiếm lời. Đến ngày 09/8/2024 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang thu giữ 0,206 gam ma tuý, loại Methamphetamine trên người của C. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Trần Trung T và Phạm Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và nhận tội và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[3] Về án phí: do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Trung T – Sửa bản án sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 21/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Đắk Lắk) về hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Trần Trung T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2, 3 Điều 35 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Trung T 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/8/2024.

[2]. Về án phí: bị cáo Trần Trung T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối Cao;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND khu vực 13;
  • - VKSND khu vực 13;
  • - Phòng THADS Khu vực 13;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Đặng Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 258/2025/HS-PT ngày 29/09/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 258/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Trung T - "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger