Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 257/2025/HS-ST

Ngày: 14-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hạnh

Thẩm phán: Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Diệu

Ông Vũ Văn Đán

Bà Trần Thị Thìn

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyến – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Ông Thạch Kim Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai cơ sở 2, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 261/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 276/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Thị Thu T; sinh ngày 20 tháng 7 năm 1978 tại tỉnh Quảng Ngãi; tên gọi khác: không; nơi thường trú: khu phố P, phường B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ may; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc Đ (đã chết) và bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1950; có chồng Trần D, sinh năm 1972 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất năm 2008; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2024 đến nay. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị N – Luật sư, Văn phòng L2 - thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Địa chỉ: Quốc lộ A, phường B, tỉnh Đồng Nai. Có mặt

Người bị hại:

  1. Bà Đặng Thị L, sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn S, xã T, tỉnh Đồng Nai. Có mặt
  2. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn S, xã T, tỉnh Đồng Nai. Có mặt
  3. Bà Dương Thị Thanh M, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn S, xã T, tỉnh Đồng Nai. Có mặt
  4. Bà Trịnh Thị T1, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn S, xã T, tỉnh Đồng Nai. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần D, sinh năm 1972; địa chỉ: Khu phố P, phường B, tỉnh Đồng Nai. Có đơn xin vắng mặt
  2. Bà Lê Thị Bé N2, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn S, xã T, tỉnh Đồng Nai. Có mặt
  3. Bà Hoàng Thị N3, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn S, xã T, tỉnh Đồng Nai. Có đơn xin vắng mặt
  4. Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn S, xã T, tỉnh Đồng Nai. Có đơn xin vắng mặt
  5. Ông Trần D1, sinh năm 1982; thường trú: Khu phố S, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: 1 Đ, phường A, Tp V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh). Có đơn xin vắng mặt
  6. Bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu phố S, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin vắng mặt
  7. Ông Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn A, xã N, tỉnh Đăk Lăk. Có đơn xin vắng mặt
  8. Bà Trần Thị L1, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn A, xã N, tỉnh Đăk Lăk. Có đơn xin vắng mặt
  9. Ông Trần Tấn T2, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn S, xã T, tỉnh Đồng Nai. Có đơn xin vắng mặt
  10. Ông Nguyễn Hải N4, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn S, xã T, tỉnh Đồng Nai. Có đơn xin vắng mặt
  11. Bà Huỳnh Thị Ú, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ B, ấp B, xã P, TP .. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2020, Lê Thị Thu T đã nợ tiền của nhiều người với tổng số tiền 19.300.000.000 đồng, cụ thể: Vay của bà Lê Thị Bé N2 số tiền 2.900.000.000 đồng; vay của bà Hoàng Thị N3 số tiền 2.500.000.000 đồng; vay của bà Nguyễn Thị Thúy H số tiền khoảng 10.000.000.000 đồng; vay của ông Trần D1 số tiền 3.000.000.000 đồng; vay của bà Đỗ Thị T3 số tiền 700.000.000 đồng; vay của bà Võ Thị N5 số tiền 200.000.000 đồng. Thời điểm này, T cùng chồng là Trần D có 02 thửa đất gồm: Thửa đất số 04, tờ bản đồ số 11, diện tích 7949,3m² và thửa đất số 445, tờ bản đồ số 18, diện tích 232,9m² (là nhà ở của vợ chồng T), cùng địa chỉ tại xã T, tỉnh Đồng Nai nhưng đã thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng với tổng số tiền là 600.000.000 đồng. Công việc của T là làm nghề thợ may tại nhà, thu nhập không ổn định dẫn đến T bị mất khả năng trả nợ gốc và lãi cho các khoản vay này.

Để có tiền tiêu xài và thanh toán tiền gốc, lãi cho các khoản vay, mặc dù bản thân T không làm dịch vụ cho vay đáo hạn ngân hàng nhưng T đã đưa ra thông tin gian dối như: Làm dịch vụ cho vay đáo hạn ngân hàng, kinh doanh bất động sản để nhiều người tin tưởng cho T vay tiền, sau đó chiếm đoạt để trả nợ cho các khoản vay trước đó và tiêu xài cá nhân. Cụ thể:

Chiếm đoạt của bà Đặng Thị L: Tháng 7/2022, T đang nợ bà Nguyễn Thị Thúy H số tiền khoảng 10.000.000.000 đồng và sắp đến thời hạn trả lại khoản tiền vay 1.500.000.000 đồng theo thỏa thuận với bà H. Để có tiền trả nợ cho bà H ngày 25/7/2022, T liên hệ bà L hỏi vay số tiền 1.500.000.000 đồng, để bà L cho vay thì T đưa ra thông tin là vay để đáo hạn ngân hàng thì bà L đồng ý. Bà L chuyển khoản từ tài khoản số 3337771978 mở tại Ngân hàng S đứng tên Đặng Thị L đến tài khoản số 7779991978 mở tại Ngân hàng S đứng tên Lê Thị Thu T số tiền 1.500.000.000 đồng cho T vay. Sau khi vay được tiền, T không dùng để đáo hạn ngân hàng mà chuyển khoản trả nợ cho bà H hết số tiền này. Đến ngày 27/7/2022 và ngày 28/7/2022, bà H chuyển khoản cho T vay lại số tiền lần lượt là 1.300.000.000 đồng và 200.000.000 đồng nhưng T không trả lại cho bà L mà dùng để trả các khoản nợ khác bao gồm: Trả cho Nguyễn Thị H3 số tiền 500.000.000 đồng, bà Trịnh Thị T1 số tiền 1.000.000.000 đồng và trả cho bà Dương Thị Thanh M số tiền 100.000.000 đồng. Tổng số tiền chiếm đoạt của bà L là 1.500.000.000 đồng. [Bút lục (BL) số: 316, 353, 354, 373, 430, 431, 439 – 444, 455 – 473, 491 – 497, 504 - 506]

Chiếm đoạt của bà Trịnh Thị T1: Để có tiền trả nợ gốc và lãi cho các khoản vay, lợi dụng mối quan hệ quen biết với bà T1 từ trước vào ngày 06/7/2022 và ngày 02/8/2022, T liên hệ vay bà T1 số tiền lần lượt là: 3.000.000.000đ và 500.000.000đ; thỏa thuận lãi suất 2.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương 6%/tháng), thời hạn vay 10 ngày. Khi vay, T đưa ra thông tin là vay tiền để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng và kinh doanh bất động sản để bà T1 tin tưởng cho T vay tiền. Các lần vay tiền, bà T1 chuyển khoản từ tài khoản số 7979839999 mở tại Ngân hàng S đứng tên Trịnh Thị T1 đến tài khoản số 7779991978 mở tại Ngân hàng S đứng tên Lê Thị Thu T, các lần vay tiền T không viết giấy vay tiền mà sau khi T tuyên bố vỡ nợ thì ghi hợp thức lại đưa cho bà T1 giữ. Tổng số tiền chiếm đoạt của bà T1 là 3.500.000.000 đồng. [BL số: 439 – 444, 455 – 473, 484 – 490]

Chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị N1: Ngày 03/5/2022, ngày 04/6/2022 và ngày 12/6/2022, T liên hệ bà N1 vay số tiền lần lượt là 1.120.000.000 đồng, 1.000.000.000 đồng, 1.000.000.000 đồng; thỏa thuận lãi suất 2%/ngày, thời hạn vay từ 03 đến 06 tháng, việc vay tiền không thế chấp tài sản. Để bà N1 tin tưởng cho vay tiền thì T đưa ra thông tin là vay tiền để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng. Các lần vay tiền, có khi bà N1 đưa tiền mặt, có khi chuyển khoản từ tài khoản số 7171777999 mở tại Ngân hàng S đứng tên Nguyễn Thị N1 đến tài khoản số 7779991978 mở tại Ngân hàng S đứng tên Lê Thị Thu T, các lần vay tiền T đều viết giấy vay tiền đưa lại cho bà N1 giữ. Quá trình vay tiền, T nhiều lần trả tiền lãi cho bà N1 đến tháng 8/2022 thì không trả lãi nữa mà tuyên bố vỡ nợ bỏ đi khỏi địa phương. T chiếm đoạt của bà N1 số tiền 3.120.000.000 đồng. [BL số: : 439 – 444, 455 – 473, 480 - 483]

Chiếm đoạt của bà Dương Thị Thanh M: Vào các ngày 12/8/2021, 3/11/2021, 25/11/2021, 11/7/2022 và ngày 25/7/2022, T liên hệ vay bà M số tiền lần lượt là 400.000.000 đồng, 700.000.000 đồng, 3.600.000.000 đồng, 1.700.000.000 đồng, 900.000.000 đồng; thỏa thuận lãi suất từ 1.600 đồng/1.000.000 đồng/ngày đến 2.000 đồng/1.000.000đ đồng /ngày (tương đương từ 4,8% đến 6%/1 tháng), thời hạn vay từ 01 đến 03 tháng. Khi vay, T cho biết lý do vay tiền để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng. Các lần vay tiền, có khi bà M đưa tiền mặt, có khi chuyển khoản từ tài khoản số 8484777999 mở tại Ngân hàng S đứng tên Dương Thị Thanh M đến tài khoản số 7779991978 mở tại Ngân hàng S đứng tên Lê Thị Thu T, các lần vay tiền T đều viết giấy vay tiền đưa lại cho bà M giữ. Số tiền vay được T không sử dụng để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng hay kinh doanh bất động sản như đã cam kết mà dùng để trả nợ hết. Quá trình vay tiền, T nhiều lần trả tiền lãi cho bà M (không xác định số tiền lãi đã đóng) đến khoảng tháng 8/2022 T ngưng trả tiền lãi cho bà M. T chiếm chiếm đoạt của bà M số tiền 7.300.000.000 đồng. [BL số: 439 – 444, 455-473, 475 - 479]

Đến đầu tháng 8/2022, do không còn khả năng trả tiền lãi, T tuyên bố mất khả năng thanh toán. Ngày 18/8/2022, 06 người gồm: bà Dương Thị Thanh M, bà Nguyễn Thị N1, bà Trịnh Thị T1, bà Đặng Thị L, bà Hoàng Thị N3 và bà Lê Thị Bé N2 đến nhà T yêu cầu trả nợ thì T đồng ý cấn trừ một phần nợ bằng việc chuyển nhượng diện đất 7.949,3m² thuộc thửa đất 04, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 768295 ngày 28/6/2016. Các bên thỏa thuận giá trị thửa đất là 6.200.000.000 đồng. Trong đó, bà M nhận 1.700.000.000 đồng, các bà N1, T1, L, N3 và N2 mỗi người nhận 850.000.000 đồng. Thửa đất được sang tên cho ông Trần Tấn T2 (chồng bà Trịnh Thị T1) và ông Nguyễn Hải N4, sinh năm 1980, cư trú: thôn S, xã T, tỉnh Đồng Nai đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về tài sản của Lê Thị Thu T: Vợ chồng Lê Thị Thu T và Trần Diệu sở hữu 06 thửa đất và quá trình chuyển dịch tài sản như sau:

- Thửa số 01: Ngày 23/6/2022, vợ chồng T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 25, tờ bản đồ số 43, diện tích 5891,8m², địa chỉ: Thôn A, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là xã B, tỉnh Đồng Nai) được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 676709. Ngày 02/8/2022, vợ chồng T chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho vợ chồng ông Trần D1 (anh ruột của ông D) và bà Nguyễn Thị Ngọc H1, cư trú: Ấp S, xã S, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, thành phố Hồ Chí Minh), theo lời khai của T thì số tiền dùng để nhận chuyển nhượng thửa đất này là do vợ chồng ông D1 góp với vợ chồng T.

- Thửa số 02: Ngày 23/6/2022, vợ chồng T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 27, tờ bản đồ số 43, diện tích 3686,4m², địa chỉ: thôn A, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là xã B, tỉnh Đồng Nai) được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 676708. Ngày 02/8/2022, vợ chồng T chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất này cho vợ chồng ông Trần D1 và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 theo lời khai của T thì số tiền dùng để nhận chuyển nhượng thửa đất trên là do vợ chồng ông D1 góp với vợ chồng T.

- Thửa số 3: Ngày 26/11/2021, vợ chồng T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 244, tờ bản đồ số 14, diện tích 141,6m², địa chỉ: thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai) được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 257000. Ngày 05/4/2022, vợ chồng T chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất này cho anh Nguyễn Thanh H2 và vợ là chị Trần Thị L1, cùng thường trú: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông (nay là xã N, tỉnh Đăk Lăk) dùng toàn bộ số tiền để tiêu xài cá nhân.

- Thửa số 04: Ngày 28/6/2016, vợ chồng T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 04, tờ bản đồ số 11, diện tích 7949,3m², địa chỉ: thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai) được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 768295. Ngày 18/8/2022, vợ chồng T chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất này cho ông Trần Tấn T2 và ông Nguyễn Hải N4 (và là thửa đất mà T cần trừ nợ cho 06 cá nhân với giá 6.200.000.000 đồng).

- Thửa số 05: Ngày 22/4/2022, vợ chồng T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 51, tờ bản đồ số 01, diện tích 9262,6m², địa chỉ: thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai) được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 405544. Ngày 20/5/2022, vợ chồng T chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho bà Huỳnh Thị Ú, thường trú: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh). Sau đó, T đã chia lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn cho các cá nhân đã góp vốn với T mua đất. Hiện nay, bà Ú đang quản lý, sử dụng thửa đất này.

- Thửa số 06: Ngày 17/8/2020, vợ chồng T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 445, tờ bản đồ số 18, diện tích 232,9m², địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai) - là nhà ở của vợ chồng T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 903785. Ngày 03/8/2022, vợ chồng T chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất này cho vợ chồng ông Trần D1 và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 để cấn trừ số tiền nợ 1.000.000.000₫ do trước đó T vay của vợ chồng ông D1 số tiền 3.000.000.000đ; T còn nợ lại số tiền 2.000.000.000₫ đến nay chưa trả. Sau đó, vợ chồng ông D1 đã chuyển nhượng thửa đất số 445 cho người khác. [BL số: 108, 109, 110 – 157, 159, 160].

Hiện nay, vợ chồng T không còn sở hữu tài sản gì khác.

Cáo trạng số 12/CT-VKSĐN-P2 ngày 19/10/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố Lê Thị Thu T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố đối với bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại bà Dương Thị Thanh M yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 6.050.000.000 đồng;

Bị hại bà Nguyễn Thị N1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 2.270.000.000 đồng;

Bị hại bà Trịnh Thị T1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 2.650.000.000 đồng;

Bị hại bà Đặng Thị L yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 650.000.000 đồng.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thị Thu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo T từ 19 đến 20 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự

Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại cụ thể:

  • Buộc bị cáo phải trả lại cho bà Dương Thị Thanh M số tiền 6.050.000.000 đồng;
  • Buộc bị cáo phải trả lại cho bà Nguyễn Thị N1 số tiền 2.270.000.000 đồng;
  • Buộc bị cáo phải trả lại cho bà bà Trịnh Thị T1 số tiền 2.650.000.000 đồng;
  • Buộc bị cáo phải trả lại cho bà bà Đặng Thị L số tiền 650.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Các tài liệu là vật chứng đã lưu kèm theo hồ sơ vụ án.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo thống nhất với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và đề nghị xem xét việc bị cáo đã bồi thường một phần cho các bị hại.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin lỗi các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các kết luận giám định, lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Năm 2020, Lê Thị Thu T vay tiền của nhiều người với số tiền lớn, đã mất khả năng trả nợ. Để có tiền trả nợ gốc, lãi của các khoản vay đến hạn và tiêu xài cá nhân, T đã lợi dụng mối quan hệ quen biết với các bị hại để đưa ra thông tin gian dối cần vay tiền để cho khách vay đáo hạn ngân hàng với thoả thuận trả lãi suất cao để các bị hại tin tưởng cho T vay tiền gồm: Bà Đặng Thị L số tiền 1.500.000.000 đồng, bà Trịnh Thị T1 số tiề 3.500.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị N1 số tiền 3.120.000.000 đồng và bà Dương Thị Thanh M số tiền 7.300.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền T không dùng để cho vay đáo hạn ngân hàng mà dùng để trả nợ cho các khoản vay khác và tiêu xài cá nhân hết. Tổng số tiền Lê Thị Thu T chiếm đoạt của các bị hại là 15.420.000.000 đồng.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng là “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Do đó, Cáo trạng số 12/CT-VKSĐN-P2 ngày 19/10/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp đồng thời phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, bất bình trong nhân dân, gây mất lòng tin giữa con người với nhau. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì để có tiền bị cáo vẫn cố tình thực hiện, do đó cần phải có một mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra để đảm bảo giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Do bị cáo không có việc làm ổn định và không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, đã bồi thường một phần hậu quả cho các bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xem xét khi lượng hình.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên toà bị cáo đồng ý tiếp tục trả cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt theo yêu cầu của các bị hại, cụ thể như sau:

  • Trả cho bà Dương Thị Thanh M số tiền 6.050.000.000 đồng;
  • Trả cho bà Nguyễn Thị N1 số tiền 2.270.000.000 đồng;
  • Trả cho bà Trịnh Thị T1 số tiền 2.650.000.000 đồng;
  • Trả cho bà Đặng Thị L số tiền 650.000.000 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng: Các tài liệu là vật chứng đã lưu kèm theo hồ sơ vụ án nên không xem xét xử lý.

[7] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. 2. Về hình phạt:
    • - Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Thị Thu T 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 30/8/2024.
  3. 3. Về vật chứng: Các tài liệu là vật chứng đã lưu kèm theo hồ sơ vụ án nên không xem xét xử lý.
  4. 4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
    • Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ tiếp tục trả cho bà Dương Thị Thanh M số tiền 6.050.000.000 (sáu tỷ không trăm năm mươi triệu) đồng;
    • Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ tiếp tục trả cho bà Nguyễn Thị N1 số tiền 2.270.000.000 (hai tỷ hai trăm bảy mươi triệu) đồng;
    • Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ tiếp tục trả bà Trịnh Thị T1 số tiền 2.650.000.000 (hai tỷ sáu trăm năm mươi triệu) đồng;
    • Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ tiếp tục trả bà Đặng Thị L số tiền 650.000.000 (sáu trăm năm mươi triệu) đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  5. 5. Về án phí: Áp dụng các điều 21, 23 và 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
    • 5.1 Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị Thu T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
    • 5.2 Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bị cáo phải nộp 119.620.000 đồng (một trăm mười chín triệu, sáu trăm hai mươi nghìn đồng).
  6. 6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TPT- TANDTC tại TP Hồ Chí Minh;
  • - Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại TP Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - CQCSĐT - CA tỉnh Đồng Nai;
  • - CQTHAHS - CA tỉnh Đồng Nai;
  • - PV 06 - CA tỉnh Đồng Nai;
  • - THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Trại tạm giam số 2 - CA tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Lưu trữ; HCTP; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 257/2025/HS-ST ngày 14/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 257/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger