Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/9/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Thành

2. Ông Trần Văn Vinh

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Phương - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 60/2025/TLST-HNGĐ ngày 29/07/2025 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/8/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 91/2025/QÐST-HNGĐ ngày 10/9/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 03/01/1991 (vắng mặt)

Mã số định danh cá nhân: 030191019854

HKTT: xóm Đ, xã H, thành phố Hà Nội

Chỗ ở: xóm Đ, xã H, thành phố Hà Nội

Bị đơn: anh Trịnh Xuân S, sinh năm 19/02/1990 (vắng mặt)

Mã số định danh cá nhân: 001090002106

HKTT: xóm Đ, xã H, thành phố Hà Nội

Chỗ ở: xóm Đ, xã H, thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Thu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thu T và anh Trịnh Xuân S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 28/09/2009 tại UBND xã H, huyện T, thành phố Hà Nội (Nay là UBND xã T, thành phố Hà Nội). Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại xóm Đ, xã H, thành phố Hà Nội đến khoảng năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, không tin tưởng lẫn nhau. Anh S chơi bời, nợ nần nên càng thêm mâu thuẫn. Anh chị cũng nói chuyện với nhau để khắc phục mâu thuẫn nhưng không được. Anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn với anh S.

Về con chung: Anh chị có 3 con chung là Trịnh Hà A, sinh ngày 08/02/2010; Trịnh Hà A1, sinh ngày 08/07/2011 và Trịnh Xuân B, sinh ngày 12/3/2016. Ly hôn, chị T xin nuôi cả ba con chung và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nhà đất và công nợ: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn, anh Trịnh Xuân S đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật và triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai, không trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn xin vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội có quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử điều khiển phiên tòa theo đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu T, chị T được ly hôn anh Trịnh Xuân S; Về con chung: Giao cả ba con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi các đương sự có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác. Anh S được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung, nhà đất, công nợ: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên dành quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu. Về án phí: chị T phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, các chứng cứ và tài liệu do các đương sự xuất trình, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

1.1. Về quan hệ pháp luật: chị Nguyễn Thị Thu T đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Trịnh Xuân S. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Trịnh Xuân S có hộ khẩu thường trú và hiện đang trú tại xóm Đ, xã H, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.3. Về việc tham gia tố tụng của đương sự: Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do tại phiên tòa; nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 28/09/2009 tại UBND xã H, huyện T, thành phố Hà Nội (Nay là UBND xã T, thành phố Hà Nội). Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại xóm Đ, xã H, thành phố Hà Nội và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh S chơi bời, nợ nần. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T xin được ly hôn với anh S. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, anh S đã được báo đến tòa nhiều lần để làm việc, hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do, thể hiện anh S không có thiện chí trong việc hòa giải.

Xác minh tại chính quyền địa phương, xác định chị T và anh S có mâu thuẫn về tình cảm, anh S thường xuyên vắng nhà. Hội đồng xét xử xét thấy, chị T và anh S mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị T được ly hôn anh S.

2.2. Về con chung: Anh chị có 3 con chung là Trịnh Hà A, sinh ngày 08/02/2010; Trịnh Hà A1, sinh ngày 08/07/2011 và Trịnh Xuân B, sinh ngày 12/3/2016. Ly hôn, chị T xin nuôi cả ba con chung. Các con chung đều có lời khai xin được ở cùng với mẹ và ở cùng với nhau trong trường hợp bố mẹ ly hôn. Anh S không đến tòa và không cung cấp ý kiến về con chung. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống, học tập, sinh hoạt cũng như tâm lý phát triển của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cả ba con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con cho đến khi các đương sự có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác. anh S có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

2.3. Về tài sản chung, nhà đất, công nợ: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. anh S không có mặt tại phiên tòa và không có lời khai về phần tài sản. Do vậy, dành quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

[3] Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu T. Chị Nguyễn Thị Thu T được ly hôn anh Trịnh Xuân S.

2. Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu T và anh Trịnh Xuân S có 03 con chung là Trịnh Hà A, sinh ngày 08/02/2010; Trịnh Hà A1, sinh ngày 08/07/2011 và Trịnh Xuân B, sinh ngày 12/3/2016. Ly hôn, giao cả ba con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi các đương sự có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác. Anh S được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nhà đất và công nợ: Dành quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

4. Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai số 2356 ngày 29/7/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. chị T đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM:

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN VĂN THẮNG

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - VKSND Khu vực 11 – Hà Nội;
  • - Chi cục THADS Khu vực 11 – Hà Nội;
  • - Các bên đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Văn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 255/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 255/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger