|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 253/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28 – 11 – 2025
V/v “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Trí Thiện, bà Trần Ngọc Anh.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 125/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số: 43/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1992. Căn cước công dân số: [...]. Địa chỉ: Số A đường số A, khu phố C, B, Thành phố Hồ Chí Minh (yêu cầu vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn L, sinh năm 1991. Căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: tổ A, ấp P, xã C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai ngày 23/10/2025, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tấn L tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 29/08/2022 tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là xã C), tỉnh An Giang (Giấy đăng ký kết hôn số 60/2022 cấp ngày 29/08/2022). Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó bất đồng về quan điểm sống dẫn đến nhiều lần cụ cãi do anh Nguyễn Tấn L không quan tâm đến gia đình, nhiều lần uống rượu say xỉn, đòi đánh đập, đe dọa tinh thần chị, mặc dù nhiều lần hàn gắn nhưng mâu thuẫn gia đình trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không đạt
được. Chính thức ly thân từ tháng 8 năm 2024 đến nay. Do tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn. Về con chung: không có. Tài sản chung và nợ chung (phải thu, phải trả) không có. Yêu cầu vắng mặt đến khi kết thúc vụ án.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Tấn L: Tòa án đã triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử, nhưng đều vắng mặt không có lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.
Tòa án tiến hành xác minh, bà Lý Thị Cẩm T1 (mẹ của anh L) xác định hiện nay vợ chồng L - T đã ly thân không chung sống hơn 01 năm nay, L thì đi làm ở xa, T thì về quê của T. Suốt thời gian chung sống vợ chồng không có con chung. Việc ly hôn của T và L thì do 02 đứa tự quyết định vì gia đình người lớn đã hàn gắn khuyên ngăn nhưng không được, mâu thuẫn từ cuộc sống, bất đồng quan điểm cự cãi nhau.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12
Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cho thấy bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với anh Nguyễn Tấn L. Về con chung không có nên không xem xét. Tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét. Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn. Bị đơn có nơi cư trú tại xã C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình “Ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn: Chị Nguyễn Thị Thu T và anh Nguyễn Tấn L là vợ chồng có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống không hạnh phúc do mâu thuẫn cự cãi, anh L không chăm lo gia đình, không có tiếng nói chung, không còn sống chung từ tháng 8 năm 2024 đến nay. Tòa án đã triệu tập anh L để tham gia hòa giải, xét xử nhưng anh đều không đến, chị T cương quyết giữ nguyên yêu cầu ly hôn, do đó chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh L là phù hợp với Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Không có.
[2.3] Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Ghi nhận chị T xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng. Anh L không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T.
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với anh Nguyễn Tấn L.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung (phải thu, phải trả): Không có.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí 300.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003244 ngày 07/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12, tỉnh An Giang. Anh Nguyễn Tấn L không phải chịu án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhung |
Bản án số 253/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 253/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn
