|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2025/HSST
Ngày 29/12/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hòa
Ông Hà Mạnh Linh
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ.
Đại diện Viên kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Hoài T - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025, Tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Văn H, sinh ngày 22/8/1995 tại P, Phú Thọ.
Nơi thường trú: Khu G, xã P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo;
Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1964 và bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1957;
Vợ con: Chưa có
Tiền án; tiền sự; nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 07/10/2025 đến ngày 10/10/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. (Có mặt).
2/ Đỗ Hữu T1, sinh ngày 09/7/2001 tại K, Hưng Yên.
Nơi thường trú: Thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo;
Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Hữu T2, sinh năm 1964 và bà Trần Thị T3, sinh năm 1962;
Vợ: Đỗ Thị Hải Y, sinh năm 1995, hiện ở thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu.
Con: Chưa có
Tiền án; tiền sự; nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 07/10/2025 đến ngày 10/10/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 06/10/2025, Công an xã P nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tố giác về việc Nguyễn Văn H, sinh năm 1995 ở khu G, xã P, tỉnh Phú Thọ, có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số đề tại nhà của mình gây mất an ninh trật tự địa phương. Sau khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm Công an xã P đã tiến hành kiểm tra phát hiện Nguyễn Văn H có hành vi đánh bạc bán số đề cho Đỗ Hữu T1, sinh năm 2001, ở thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu. Thông qua hình thức thức nhắn tin từ số thuê bao 0985999836 (được H đăng kí chính chủ) lắp trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax màu vàng cát, số IMEI 1: 351613329481084, IMEI 2: 35161332404192 của Nguyễn Văn H đến số thuê bao 0393596062 của Đỗ Hữu T1, được Nguyễn Văn H lưu trong danh bạ điện thoại là “T” tổng số tiền Hoàng bán số đề cho T1 là 5.000.000 đồng. Công an xã đã tiến hành lập biên bản làm việc theo đúng quy định và tạm giữ giữ 01 chiếc điện thoại nêu trên do H tự nguyện giao nộp. Sau đó chuyển về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P giải quyết theo thẩm quyền.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn H và Đỗ Hữu T1 đã khai nhận: Nguyễn Văn H và Đỗ Hữu T1 có mối quan hệ là bạn bè buôn bán trâu bò với nhau. Sau khi T1 biết H có ý định bán số lô, số đề nên khoảng 16 giờ 00 phút ngày 06/10/2025 T1 đã sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng cát, số IMEII: 358612410924401, IMEI2: 358612410762587 lắp số thuê bao 0393596062 mà Tốt đăng ký chính chủ để nhắn tin vào số thuê bao 0985999836 của Nguyễn Văn H với nội dung để mua số đề của H cụ thể: “Dề 93 x1500 39x 500” nghĩa là mua: đề số 93 với số tiền 1.500.000 đồng; đề số 39 với số tiền 500.000 đồng; “Đầu đít 9x3tr” có nghĩa là mua các số đề có đầu 9, đít 9 với tổng số tiền là 3.000.000 đồng (Trong đó đầu 9 gồm 10 số như sau: 90, 91, 92,93,94,95,96,97,98,99; đít 9 gồm 10 số như sau: 09,19,29,39,49,59,69,79,89,99 mỗi số là 150.000 đồng x 20 số đề = 3.000.000 đồng). Cùng lúc đó H đang ở nhà tại khu G, xã P thì nhận được tin nhắn với nội dung mua số đề trên mà Đỗ Hữu T1 gửi đến điện thoại. Sau đó H dùng điện thoại Iphone 16 Promax màu vàng cát cài số thuê bao 0985999836 nhắn tin lại cho T1 là “Ok” có nghĩa xác nhận đồng ý bán các số đề trên cho T1.
Như vậy tổng số tiền mà H đánh bạc cùng Tốt ngày 06/10/2025 là 5.000.000 đồng. Tiền mua số đề H và T1 thống nhất với nhau trả sau, do đó T1 chưa thanh toán số tiền này cho H. Toàn bộ số đề H bán cho T1 nêu trên, H giữ lại để tự tính thắng thua với T1, không chuyển bảng cho người khác. Tại cơ quan điều tra H và T1 đều khai nhận ngày 06/10/2025 là ngày đầu tiên H và T1 thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề. Đến khoảng 17 giờ ngày 06/10/2025 trước khi quay mở thưởng của số số kiến thiết miền B thì hành vi mua bán số đề của Nguyễn Văn H và Đỗ Hữu T1 bị Công an xã P, tỉnh Phú Thọ phát hiện. Tại cơ quan điều tra Đỗ Hữu T1 đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax màu vàng cát cài số thuê bao 0393596062 nêu trên và số tiền 5.000.000 là tiền mua số đề mà T1 chưa thanh toán cho H.
H và T1 đã thống nhất cách thức đánh bạc dưới hình thức mua bán số đề cụ thể: Người mua tự lựa chọn 02 chữ số trong dãy số tự nhiên từ 00 đến 99, có thể mua một hoặc nhiều số có 02 chữ số. Số đề mua với mức tiền tùy ý. Sau đó người chơi (mua) sẽ về đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng vào lúc 18 giờ 15 phút đến 18 giời 30 phút cùng ngày để tính. Nếu số đề đã mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì người mua thắng bạc và được trả gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra mua số đề đó; nếu thua người chơi mất số tiền đã mua. Việc thanh toán tiền được thực hiện sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B và nếu người mua thắng bạc (trúng số đề) sẽ đến gặp trực tiếp người bán để nhận tiền. Nếu không có số nào trúng thì người bán sẽ thắng bạc và sẽ nhận được tất số tiền đã bán số đề cho người mua.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại của Nguyễn Văn H xác định trích xuất được 01 tin nhắn SMS của Đỗ Hữu T1 gửi đến cho H vào ngày 09/06/2025 với nội dung đánh bạc bằng hình thức mua số đề. Tài liệu trên phù hợp với trích xuất ban đầu của Cơ quan điều tra, ngoài ra không có nội dung, thông tin vi phạm nào khác.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H, Đỗ Hữu T1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội “Đánh bạc” của mình như đã trình bày ở trên. Lời khai của các bị cáo thống nhất, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 10/CT-VKSKV6 ngày 26/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Hoàng, Đỗ Hữu Tốt về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn H và Đỗ Hữu T1 về tội "Đánh bạc" và đề nghị:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Hữu T1.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H và Đỗ Hữu T1 phạm tội "Đánh bạc".
Đề nghị xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn H từ 26.000.000₫ (Hai mươi sáu triệu đồng) đến 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
Đề nghị xử phạt bị cáo: Đỗ Hữu T1 từ 23.000.000đ (Hai mươi ba triệu đồng) đến 26.000.000₫ (Hai mươi sáu triệu đồng).
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Đối với số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) là tiền bị cáo T1 mua số đề của bị cáo Hoàng cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
- Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 16 Promax màu vàng cát, số IMEI 1: 351613329481084, IMEI 2: 35161332404192, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn H. Đây là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax màu vàng cát, số IMEI 1: 358612410924401, IMEI 2: 358612410762587, đã qua sử dụng thu giữ Đỗ Hữu T1. Đây là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với thẻ sim số thuê bao 0985999836 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H. Bị cáo đã sử dụng để liên lạc bán số đề cho bị cáo T1. Cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- Đối với thẻ sim số thuê bao 0393596062 thu giữ của bị cáo Đỗ Hữu T1. Bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua số đề của bị cáo H. Cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Về án phí:
Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, M, G, T, N, Quản lý và sử dụng Án phí, Lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Đỗ Hữu T1 mỗi bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Đỗ Hữu T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận nội dung quyết định truy tố là đúng, không oan sai. Đề nghị Toà án xét xử áp dụng mức hình nhẹ nhất và cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Toà án nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ, nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 06/10/2025, tại nhà ở của Nguyễn Văn H, sinh năm 1995 thuộc khu G, xã P, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Văn H đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số đề cho Đỗ Hữu T1, sinh năm 2001 ở Thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu với tổng số tiền là 5.000.000đ thông qua hình thức tin nhắn trên điện thoại.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo khai trong quá trình điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm, phương thức thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội, các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ pháp lý để kết luận các bị cáo Nguyễn Văn H và Đỗ Hữu T1 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
[2.2]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của các bị cáo:
Xét tính chất vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật; có điều kiện để nhận thức về pháp luật, có sức khỏe và hiểu biết xã hội nhưng đã coi thường pháp luật dẫn đến phạm tội. Vì vậy vụ án cần phải đưa ra xét xử kịp thời và nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung;
[2.3]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Các bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, trước lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành tốt quy định của pháp luật. Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Văn H có bố đẻ là Nguyễn Văn S được tặng thưởng huy chương chiến sĩ vẻ vang nên bị cáo H được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo và các quy định khác của pháp luật thấy rằng không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung, cũng như để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên đối với bị cáo Nguyễn Văn H là người đã đứng ra bán số đề cho đối tượng đánh bạc, điều đó thể hiện bị cáo H là người liều lĩnh, coi thường pháp luật nên phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn đối với bị cáo T1 là phù hợp.
+ Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ. Do các bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo là phù hợp.
[3] Về vật chứng vụ án:
- Đối với số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) là tiền bị cáo T1 mua số đề của bị cáo Hoàng cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
- Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 16 Promax màu vàng cát, số IMEI 1: 351613329481084, IMEI 2: 35161332404192, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn H. Đây là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax màu vàng cát, số IMEI 1: 358612410924401, IMEI 2: 358612410762587, đã qua sử dụng thu giữ Đỗ Hữu T1. Đây là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với thẻ sim số thuê bao 0985999836 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H, không còn giá trị sử dụng. Cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- Đối với thẻ sim số thuê bao 0393596062 thu giữ của bị cáo Đỗ Hữu T1, không còn giá trị sử dụng. Cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Đỗ Hữu T1 mỗi bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Điều luật áp dụng:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Hữu T1.
[2] Về tội danh và mức hình phạt:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Đỗ Hữu T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 26.000.000 đ (Hai mươi sáu triệu đồng chẵn).
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Hữu T1 24.000.000 đ (Hai mươi bốn triệu đồng chẵn).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
(Theo phiếu ủy nhiệm chi do kho bạc Nhà nước khu vực VIII lập ngày 02/12/2025 thể hiện tại biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/12/2025 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra công an tỉnh P với Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Phú Thọ).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại Iphone 16 Promax màu vàng cát, số IMEI 1: 351613329481084, IMEI 2: 35161332404192, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn H.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax màu vàng cát, số IMEI 1: 358612410924401, IMEI 2: 358612410762587, đã qua sử dụng thu giữ Đỗ Hữu T1.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) thẻ sim số thuê bao 0985999836 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) thẻ sim số thuê bao 0393596062 thu giữ của bị cáo Đỗ Hữu T1.
(Vật chứng có tình trạng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/12/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - Phú Thọ).
[4] Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, M, G, T, N, Quản lý và sử dụng Án phí, Lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Đỗ Hữu T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Duyên |
Bản án số 25/2025/HSST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 25/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H +T
