|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 244/2025/HS- ST Ngày: 25- 11- 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh.
Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Long- Giáo viên nghỉ hưu.
Bà Nguyễn Thị Dung- Nghỉ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Đình Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5, Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 25/11/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 212/2025/HSST ngày 16/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2025/QĐXXST-HS ngày 10/11/2025 đối với các bị cáo:
1/ TRẦN DUY H, sinh ngày 06/6/2007; Nơi thường trú: Thôn H, xã T, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể) trước khi phạm tội: không ; Con ông Trần Văn H1 và bà Nguyễn Thị N; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 15/8/2024, Đ, Công an huyện T, tỉnh Hải Dương xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Quyết định XPHC số 72 ngày 12/8/2024; phạt tiền 3.000.000₫). Bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 13/7/2025 đến ngày 21/7/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
2/ LÊ BẢO L, sinh ngày 17/9/2007 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 9 tháng 24 ngày); Nơi thường trú: Thôn T, xã Q, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể) trước khi phạm tội: không; Con ông Lê Minh T và bà Bùi Thị X; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không. Bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 13/7/2025 đến ngày 21/7/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
3/ DOÃN TRUNG TIẾN, sinh năm 2004; Nơi thường trú: Thôn Đ, xã T, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể) trước khi phạm tội: không; Con ông Doãn Trung P và bà Trần Thị H2; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không. Bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 13/7/2025 đến ngày 21/7/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
4/ NGUYỄN VĂN N1, sinh năm 2003; Nơi thường trú: Thôn H, xã X, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể) trước khi phạm tội: không ; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Hà Thị C; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không. Bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 13/7/2025 đến ngày 21/7/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
5/ NGUYỄN HUY T2, sinh ngày 14/11/2007 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 7 tháng 24 ngày); Nơi thường trú: Thôn V, xã X, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể) trước khi phạm tội: không; Con ông Nguyễn Huy C1 và bà Nguyễn Thị H3; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không. Bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 13/7/2025 đến ngày 21/7/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Bảo L là bố mẹ đẻ: Ông Lê Minh T, sinh năm 1982, bà Bùi Thị X, sinh năm 1985. Cùng nơi cư trú: Thôn T, xã Q, tỉnh Hưng Yên. Có mặt ông T tại phiên tòa.
* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Huy T2 là bố mẹ đẻ: Ông Nguyễn Huy C1, sinh năm 1980, bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1983. Cùng nơi cư trú: V, xã X, thành phố Hà Nội. Có mặt ông C1, bà H3 tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Lê Bảo L, bị cáo Nguyễn Huy T2: Bà Nghiêm Thị N2- Trợ giúp viên pháp ly, Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
*Người làm chứng:
- Chị Lù Thị V, sinh năm 2003; nơi thường trú: thôn C, xã T, tỉnh Tuyên Quang; Vắng mặt tại phiên tòa
- Chị Hoàng Thị H4, sinh ngày 03/02/2008; Người đại diện theo pháp luật là bố mẹ đẻ: ông Hoàng Văn H5, sinh năm 1982; bà Đinh Thị Mỹ L1, sinh năm 1987; Cùng nơi thường trú: khu H, xã X, Phủ Thọ. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 05 giờ ngày 11/7/2025, tổ công tác Đội 2, Phòng PC04 – Công an thành phố H phối hợp cùng Công an xã G, Hà Nội tiến hành kiểm tra tại P tòa nhà S khu đô thị V, xã G, thành phố H phát hiện 07 đối tượng có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Doãn Trung T3; Trần Duy H; Lê Bảo L; Nguyễn Văn N1; Nguyễn Huy T2; Lù Thị V và Hoàng Thị H4. Các đối tượng khai nhận đang cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy, loại Ketamine.
Vật chứng thu giữ: 01 đĩa sứ màu trắng trên mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng; 01 thẻ nhựa màu xám; 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000VNĐ; 01 túi nilong bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 loa nghe nhạc màu đen nhãn hiệu “harman/kardon”; 01 đèn chiếu có vỏ nhựa màu xám.
Tổ công tác tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật thu giữ được tại chỗ và lập biên bản kiểm tra hành chính làm căn cứ xử lý theo quy định pháp luật.
Xét nghiệm nước tiểu của 07 đối tượng trên đều có phản ứng dương tính với ma túy Ketamine.
Tại Bản kết luận giám định số 4059/KL-KTHS ngày 21/7/2025 của Phòng K - C2 kết luận:
- 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu xám và 01 ống cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000VNĐ đều có dính ma túy loại Ketamine.
- Chất bột màu trắng trong 01 túi nilong là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,705 gam.
Vật chứng thu giữ của Lê Bảo L: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu đen. Số IMEI: 35 726809 6060399, IMEI 2: 35 726809 6138831 bên trong lắp sim 0353717449; của Lù Thị V: 01 điện thoại Iphone 14 promax màu vàng; của Nguyễn Huy T2: 01 điện thoại iphone 15 promax màu xanh titan đã qua sử dụng; của Hoàng Thị H4: 01 điện thoại iphone màu xanh, không kiểm tra Imei; của Trần Duy H: 01 điện thoại di động iphone 16 promax màu trắng, số IMEI: 359922292503606; IMEI 2: 359922292707785 bên trong lắp sim 0962003783; 01 điện thoại di động Iphone 11 màu tím số IMEI: 352926116178997; IMEI 2: 352926116117862 bên trong lắp sim 0961970393; của Nguyễn Văn N1: 01 điện thoại
di động nhãn hiệu Iphone Xs vỏ màu vàng bên trong lắp 01 sim số 0388551104 ; của Doãn Trung T3: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 promax màu trắng, bên trong lắp sim số 0828128683. Tất cả điện thoại thu giữ đều đã qua sử dụng và không kiểm tra chất lượng bên trong máy.
Tại Cơ quan điều tra, Doãn Trung T3, Trần Duy H, Lê Bảo L, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Huy T2, Lù Thị V và Hoàng Thị H4 đều khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 11/7/2025, H, T2 và N1 đang ngồi uống nước cùng nhau tại xã T, Hà Nội thì H rủ mọi người góp tiền đi mua ma túy về cùng sử dụng, T2 và N1 đồng ý. Sau đó H gọi điện rủ thêm L sử dụng ma túy và thống nhất L sẽ là người đi mua ma túy và đi thuê phòng để cho cả nhóm sử dụng ma túy. L đồng ý và báo giá cho H số tiền mua ma túy “Ke” và thuê phòng là 8.000.000 đồng. Lâm ứng tiền trước sau đó sẽ chia đều cho những người tham gia. T2 đồng ý và đưa cho H số tiền 3,5 triệu đồng là tiền T2 và N1. Sau đó H chuyển khoản cho L 08 triệu đồng. Do L và T3 đang ngồi ăn cùng nhau nên L rủ T3 đi sử dụng ma túy cùng, T3 đồng ý. L chuyển khoản cho T3 7,5 triệu đồng và cùng T3 đi taxi đến phố C, xã Q, Hưng Yên để mua ma túy. Khi đến phố C, T3 vào quán nhờ đổi 06 triệu tiền tài khoản sang tiền mặt và dùng số tiền này mua được 04 chỉ ma túy Ke của một người nam thanh niên không xác định được tên tuổi địa chỉ, còn lại 1,5 triệu đồng T3 dùng để trả tiền thuê phòng. Sau khi mua được ma túy, T3 liên lạc với Phạm Văn T4 qua tài khoản zalo “Thảo Homestay” hỏi thuê phòng 1008 Tòa nhà S Vinhomes O, xã G, Hà Nội để ngủ qua đêm với giá 700.000đ/ đêm và phải thanh toán tiền trước. T3 chuyển khoản tiền thuê phòng qua số tài khoản 19035895677018 ngân hàng T8 rồi cùng L đi đến sảnh Tòa nhà S đi lên phòng 1008. Đến nơi, T3 để túi ma túy lên bàn và đợi nhóm H, T2 và N1 đến để cùng sử dụng. Một lúc sau T2, H và N1 đi taxi đến sảnh Tòa nhà S1.09. T3, L cùng xuống đón T2, H, N1 lên phòng 1008 để cùng nhau sử dụng ma túy. Tại đây, L lấy chiếc đĩa sứ đổ ma túy “Ke” lên đĩa rồi dùng thẻ cứng xào “Ke”, H đưa cho T2 tờ tiền 20.000VNĐ để cuốn tẩu hút, sau đó cả 05 người cùng nhau sử dụng ma túy. Đến khoảng 01 giờ ngày 12/7/2025, L hỏi cả nhóm có muốn gọi nhân viên nữ đến phục vụ không? Thì cả nhóm đồng ý. L dùng điện thoại gọi cho nam thanh niên có tên “T5” qua ứng dụng T6 còn T3 dùng điện thoại gọi cho nam thanh niên có tài khoản zalo “Boss” để thuê nhân viên nữ với giá 400.000 đồng/ giờ. Sau đó, tài khoản zalo “Boss” gọi cho V và tài khoản zalo có tên “Bảo Long” gọi cho H4 bảo qua Tòa S1.09 phục vụ khách. H4 và V đồng ý đi tới điểm hẹn. Khoảng 01 giờ 30 phút thì H4, V đi taxi đến nơi và được L, H đón lên phòng 1008. Tại đây, L, H, T2, N1, T3 đã đưa ma túy cho H4 và V cùng sử dụng. Đến khoảng 05 giờ ngày 12/7/2025, khi cả nhóm đang sử dụng trái phép chất ma túy thì tổ
công tác Đội 2, Phòng PC04 - Công an thành phố H phối hợp cùng Công an xã G, Hà Nội tiến hành kiểm tra, thu giữ tang vật, đưa H, T3, L, N1, T2, H4, V về trụ sở để làm rõ.
Đối với Nguyễn Thị H6 và Lù Thị V là 02 nhân viên được các bị can T3, H, L, T2, N1 thuê để cùng sử dụng ma túy. H6 và V không tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và không thuộc đối tượng theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự nên Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H không đặt vấn đề xử lý hình sự với H6 và Viện. Ngày 26/9/2025, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H đã ra quyết định xử lý hành chính đối với Nguyễn Thị H6 và Lù Thị V về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với Phạm Văn T4 khi cho T3 thuê căn hộ 1008 Tòa S109, T4 không biết T3 và đồng phạm sử dụng vào mục đích phạm tội. Do vậy, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H không đặt vấn đề xử lý đối với Phạm Văn T4.
Đối với 01 đĩa sứ màu trắng và 01 thẻ nhựa màu xám là tài sản của Phạm Văn T4 để trong căn hộ 1008 Tòa S109. Do tài sản có giá trị nhỏ nên anh T4 không có yêu cầu đề nghị gì.
01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000VNĐ; 01 điện thoại di động iphone 16 promax màu trắng, số IMEI: 359922292503606, IMEI 2: 359922292707785 bên trong lắp sim 0962003783; 01 điện thoại di dộng Iphone 11 màu tím số IMEI: 352926116178997, IMEI 2: 352926116117862 bên trong lắp sim 0961970393 qua điều tra thuộc sở hữu của bị can Trần Duy H. Bị can H đã sử dụng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và chiếc điện thoại di động Iphone 11 màu tím vào mục đích phạm tội, chiếc diện thoại iphone 16 promax dùng để liên lạc cá nhân.
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu đen, Số IMEI: 35 726809 6060399, IMEI 2: 35 726809 6138831 bên trong lắp sim 0353717449; 01 loa nghe nhạc màu đen nhãn hiệu “harman/kardon” và 01 đèn chiếu có vỏ nhựa màu xám, thuộc sở hữu của Lê Bảo L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 promax màu trắng bên trong lắp sim số 0828128683 thuộc sở hữu của bị can Doãn Trung T3. Các điện thoại trên đều đã qua sử dụng và các bị can sử dụng vào mục đích phạm tội.
Đối với 01 điện thoại iphone 16 promax màu xanh titan đã qua sử dụng, qua điều tra thuộc sở hữu của bị can Nguyễn Huy T2. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs vỏ màu vàng bên trong lắp 01 sim số 0388551104 thuộc sở hữu của bị can Nguyễn Văn N1. Các điện thoại này đều đã qua sử dụng và các bị can sử dụng vào mục đích liên lạc cá nhân.
Đối với 01 điện thoại Iphone 14 promax màu vàng qua điều tra thuộc sở hữu của Lù Thị V; 01 điện thoại iphone màu xanh, qua điều tra thuộc sở hữu của Hoàng Thị H4. Viện và H4 đã sử dụng để liên lạc cá nhân. Do vậy, ngày 25/9/2025, Cơ quan CSĐT- Công an thành phố H đã trao trả 02 chiếc điện thoại cho H4 và Viện.
Đối tượng bán ma túy cho Doãn Trung T3 và các đối tượng đã gọi H4 và V đến phục vụ cho các bị can T3, L, H, T2, N1, do không rõ về nhân thân nên Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H không có căn cứ để làm rõ.
Bản cáo trạng số 139/CT-VKS ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Hà Nội truy tố Doãn Trung T3, Trần Duy H, Lê Bảo L, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Huy T2,về tội " Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy " theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
* Các bị cáo Doãn Trung T3, Trần Duy H, Lê Bảo L, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Huy T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như Kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố các bị cáo Doãn Trung T3, Trần Duy H, Lê Bảo L, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Huy Trọng phạm tội T7 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 ( trừ bị cáo H) Điều 51, Điều 38; Điều 17, 58, Điều 91, 101 Bộ luật Hình sự và Điều 115; khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt các bị cáo:
Doãn Trung T3 từ 08 năm 03 tháng đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2025.
Trần Duy H từ 08 năm 06 tháng đến 08 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2025.
Lê Bảo L từ 05 năm đến 05 năm 03 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2025.
Nguyễn Văn N1 từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2025.
Nguyễn Huy T2 từ 04 năm 06 tháng đến 04 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2025.
- - Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: số ma túy thu giữ của các bị cáo, 01 đĩa sứ màu trắng và 01 thẻ nhựa màu xám
Tịch thu sung công: 01 ống hút là tờ tiền mệnh giá 20.000đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu đen, Số IMEI: 35 726809 6060399, IMEI 2: 35 726809 6138831, bên trong lắp sim 0353717449; 01 loa nghe nhạc màu đen nhãn hiệu “harman/kardon” và 01 đèn chiếu có vỏ nhựa màu xám, thuộc sở hữu của Lê Bảo L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 promax màu trắng bên trong lắp sim số 0828128683 thuộc sở hữu của Doãn Trung T3; 01 điện thoại di dộng Iphone 11 màu tím số IMEI: 352926116178997, IMEI 2: 352926116117862 bên trong lắp sim 0961970393 thuộc sở hữu của Trần Duy H.
Trả lại các bị cáo: 01 điện thoại di động iphone 16 promax màu hồng, số IMEI: 359922292503606, IMEI 2: 359922292707785 bên trong lắp sim số 0962003783 thu giữ của Trần Duy H; 01 điện thoại iphone 16 promax màu xanh titan đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Huy T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs vỏ màu vàng bên trong lắp sim số 0388551104 thu giữ của Nguyễn Văn N1.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo
* Người bào chữa cho bị cáo L, bị cáo T2 trình bày quan điểm:
Các vấn đề về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố về phía các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của các bị cáo và những người liên quan khác không ai có ý kiến khiếu nại, thắc mắc gì nên người bào chưa không có ý kiến về sấn đề này.
Nhất trí về các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo chưa thành niên mà Viện kiểm sát vừa công bố.
Đại diện VKS đánh giá vai trò của L là người khởi xướng là chưa phù hợp, L chỉ là người thực hành tích cực; Không đồng tình với việc Viện kiểm sát đánh giá các bi cáo L, T2 là người chưa thành niên khi phạm tội mà bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Số tiền các bị cáo dùng đề mua ma túy có 6 triệu đồng, chia cho 7 người dùng là không không lớn. Bị cáo T2, L đều chưa thành niên nên các bị cáo nghe theo bạn bè rủ rê, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
* Các bị cáo khác không có tranh luận gì;
* Người đại diện hợp pháp của các bị cáo T2, L không có tranh luận gì bổ sung thêm.
* Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Bị cáo L chủ động rủ thêm bị cáo T3 cùng tham gia sử dụng ma túy; L vừa cùng T3 đi mua ma túy; L là người nhờ gọi H4 đến cùng sử dụng ma túy mà H4 là người dưới 18 tuổi. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Bản cáo trạng và Bản luận tội đối với các bị cáo.
Không có ai tranh luận gì thêm
Phần nói lời sau cùng các bị cáo đều xác định lần đầu phạm tội, rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, mong HDXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Doãn Trung T3, Trần Duy H, Lê Bảo L, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Huy T2 khai nhận toàn bộ nội dung vụ việc phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và bản Cáo trạng của Viện kiểm sát. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 12/7/2025, tại phòng A tòa S khu đô thị V, xã G, thành phố Hà Nội, các bị cáo Doãn Trung T3, Lê Bảo L ( đến ngày thực hiện hành vi phạm tội 17 tuổi 9 tháng 24 ngày), Trần Duy H, Nguyễn Huy T2 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội 17 tuổi 7 tháng 27 ngày), Nguyễn Văn N1 đã cùng nhau góp tiền cho bị cáo L và T3 đi mua ma túy và đi thuê phòng để cả nhóm cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra trong quá trình cùng sử dụng ma túy, bị cáo L và bị cáo T3 đã nhờ người gọi Lù Thị V và Hoàng Thị H4 (đến ngày H4 bị bắt cùng các bị cáo thì H4 17 tuổi 5 tháng 08 ngày) cùng đến để sử dụng ma túy. Kết quả xét nghiệm nước tiểu thì Lù Thị V, Hoàng Thị H4 và tất cả các bị cáo Doãn Trung T3, Trần Duy H, Lê Bảo L, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Huy T2 đều dương tính với ma túy Ketamine. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vi phạm điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Đây là vụ án đồng phạm, nhưng không có tổ chức vì không có sự câu kết chặt chẽ trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội giữa các bị cáo. Về vai trò của các bị cáo trong qúa trình thực hiện hành vi phạm tội: Trần Duy H và Lê Bảo L là người khởi xướng và thực hành tích cực, Doãn Trung T3 là người thực hành tích cực, Nguyễn Huy T2, Nguyễn Văn N1 là người thực hành. Bản thân bị cáo H có 01 tiền sự: Ngày 15/8/2024, Đ, Công an huyện T, tỉnh Hải Dương xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Quyết định XPHC số 72 ngày 12/8/2024; phạt tiền 3.000.000đồng). Đối với bị cáo Lê Bảo L đã có hành vi Cố ý gây thương tích xảy ra ngày 04/6/2025 và Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Hưng Yên đã ban hành Bản cáo trạng só 42/CT-VKSKV1 ngày 24/11/2025 truy tố đối với bị cáo và đồng phạm ( hành vi này xảy ra trước khi bị bắt về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị đưa ra xét xử nên chỉ đánh giá về ý thức coi thường pháp luật của bị cáo). Căn cứ vào vai trò, mức độ hành vi phạm tội và
nhân thân của từng bị cáo thì mức hình phạt của bị cáo H là cao nhất, sau đó đến bị cáo L, T3, và bị cáo N1, T2.
Trong vụ án có 2 bị cáo Lê Bảo L và Nguyễn Huy Trọng phạm T7 khi chưa thành niên nên được áp dụng các quy định của Điều 91, 101 Bộ luật Hình sự và Điều 115, khoản 1 Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên khi lượng hình.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đã tổ chức cho mình và những người khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo đều biết ma túy là chất độc quyền quản lý của nhà nước nên bị nhà nước cấm người dân lưu hành, do tác hại của ma túy làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và lây lan các bệnh truyền nhiễm, nhưng do muốn thỏa mãn cơn nghiện của mình và các bạn cùng chơi nên các bị cáo đã góp tiền, thuê căn hộ chung cư để cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Việc các bị cáo nhờ gọi người khác đến cùng sử dụng trái phép chất ma túy và có Hoàng Thị H4 chưa thành niên nên các bị cáo cùng phải chịu trách nhệm trước pháp luật về hành vi của mình. Hành vi của các bị cáo là cố ý, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy, cần tiếp tục phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo. Bị cáo T3 đã tham gia quân đội; bị cáo L có ông nội được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất; bị cáo T2 có xác nhận của chính quyền địa phương về việc chấp hành tốt các chính sách pháp luật của địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 ( đối với các bị cáo T3, L, T2) Điều 51 Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Đối với Nguyễn Thị H6 và Lù Thị V do các bị cáo nhờ gọi đến thuê để cùng sử dụng ma túy. H6 và V không biết gì về việc các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và không thuộc đối tượng theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự nên Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H đã ra quyết định xử lý hành chính đối với H6 và V về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Anh Phạm Văn T4 khi cho bị cáo T3 thuê căn hộ 1008 Tòa S109, anh T4 không biết T3 và đồng phạm sử dụng vào mục đích phạm tội. Do vậy, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H không đặt vấn đề xử lý đối với Phạm Văn T4 là phù hợp.
Đối tượng bán ma túy cho Doãn Trung T3 và các đối tượng đã gọi H6 và V đến phục vụ cho các bị cáo, do các bị cáo không biết rõ về nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H không có căn cứ để làm rõ.
* Lời đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo Lê Bảo L, Nguyễn Huy T2 sẽ được Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình nghị án.
[2] Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản phù hợp với kết quả nghị án của Hội đồng xét xử.
[3] Đánh giá về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, không có ai khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không phải xem xét.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000đồng đến 500.000.000đồng, nhưng xét thấy các bị cáo không có thu nhập do không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt này đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của các bị cáo ( sau khi đã trích mẫu giám định); 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa ( do chủ là nhà là anh T4 không yêu cầu nhận lại) .
Tờ tiền mệnh giá 20.000đồng (dùng làm ống hút); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu đen bên trong có lắp sim, 01 loa nghe nhạc màu đen nhãn hiệu “harman/kardon” và 01 đèn chiếu có vỏ nhựa màu xám thu giữ của Lê Bảo L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 promax màu trắng bên trong lắp sim thu giữ của Doãn Trung T3; 01 điện thoại di dộng Iphone 11 màu tím bên trong lắp sim thu giữ của Trần Duy H cần tịch thu sung công, vì liên quan đến hành vi phạm tội.
01 điện thoại iphone 16 promax màu hồng bên trong lắp sim thu giữ của Trần Duy H; 01 điện thoại Iphone 16 promax màu xanh titan thu giữ Nguyễn Huy T2; 01 điện thoại Iphone Xs vỏ màu vàng bên trong lắp sim thu giữ của Nguyễn Văn N1 do không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại các bị cáo.
[6] Về án phí: Các bị cáo đều phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật và người bào chữa cho bị cáo L, bị cáo T2 đều có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 ( đối với T3, L, T2) Điều 51, Điều 38; Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự;
- - Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- - Điều 91, 101 Bộ luật Hình sự; Điều 115, khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên ( đối với L, T2)
Tuyên bố: Các bị cáo Doãn Trung T3, Trần Duy H, Lê Bảo L, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Huy Trọng phạm T7 Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Xử phạt :
Bị cáo Trần Duy H 08 ( tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2025.
Bị cáo Doãn Trung T3 07 ( bảy) năm 09 ( chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2025.
Bị cáo Nguyễn Văn N1 07 ( bảy) năm 03 ( ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2025.
Bị cáo Lê Bảo L 04 (bốn) năm 08 ( tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2025.
Bị cáo Nguyễn Huy T2 04 ( bốn) năm 03 ( ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2025.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
- - Tịch thu tiêu hủy: số ma túy thu giữ trong: 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 túi nilong màu trăng chứa ma túy loại Ketamine theo kết luận giám định số C4418 ngày 13/7/2025 của Phòng K, C2 được niêm phong dán kín trên các mép dán có chữ ký họ tên của của các bị cáo và các thành phần liên quan.
01 niêm phong bằng giấy trắng bên trong có 01 đĩa sứ màu trắng trên bề mặt có dính ma túy loại Ketamine theo kết luận giám định số C4418 ngày 13/7/2025 của Phòng K, C2, 01 thẻ nhựa màu xám được niêm phong dán kin trên các mép dân có chữ ký họ tên của các bị cáo và các thành phần liên quan
- - Tịch thu sung công: 01 loa nghe nhạc màu đen nhãn hiệu “harman/kardon"; 01 đèn chiếu vỏ nhựa màu xám.; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000đồng ( các bị cáo sử dụng làm ống hút).
01 phong bì niêm phong bên trong có 01 điện thoại di động nhân hiệu iphone 16 promax màu trắng đã qua sử dụng bên trong có lắp sim, không kiểm tra chất lượng bên trong.
01 phong bì niêm phong bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone XS max màu đen đã qua sử dụng số Imei 357268096060399, Imei 2: 357266138831 bên trong có lắp sim, không kiểm tra chất lượng bên trong.
01 phong bì niêm phong bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tim số Imei 352926116178997. Imei 2: 352926116117862 bên trong lắp sim, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Trả lại các bị cáo:
Trả lại bị cáo Nguyễn Huy T2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 16 promax màu xanh titan đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Trả lại bị cáo Trần Duy H: 01 điện thoại di động nhân hiệu iphone 16 promax màu hồng đã qua sử dụng số Imei 359922292503606, Imei 2:992229292707785 bên trong có lắp sim số 0962003783;
Trả lại bị cáo Nguyễn Văn N1: 01 điện thoại di động nhân hiệu iphone Xs vỏ màu vàng đã qua sử dụng bên trong có lắp sim, không kiểm tra chất lượng bên trong.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5, Hà Nội ngày 03/10/2025 và Biên bản giao, nhận tài sản giữa Công an thành phố H và Phòng giao dịch số 8- Kho bạc NN KV1 ngày 13/10/2025).
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.
Án xử công khai, sơ thẩm. Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật và người bào chữa cho bị cáo Lê Bảo L và bị cáo Nguyễn Huy T2 đều có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Kim Oanh |
Bản án số 244/2025/HS- ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 244/2025/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Duy H và đồng phạm bị truy tố về tội Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 2 Điều 255 BLHS
