Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 240/2025/HSST

Ngày : 30/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trương Hồng Phượng – Giáo viên;

2/ Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Cán bộ hưu trí;

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyên Khôi là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Lan – Kiểm sát viên;

Hôm nay, ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 9 (Cơ sở A), Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 63/2025/HSST ngày 07 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 297/2025/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: DƯƠNG VĂN K; Giới tính: Nam; Sinh năm: 29/09/2008 tại tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: Ấp K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang); Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1987 và bà Dương Thị M, sinh năm 1989; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực T - Trại tạm giam C, Công an Thành phố H;

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: bà Nguyễn Thị Chim N, sinh năm 1952, địa chỉ: B15/5B C, ấp B, tổ A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã V, Thành phố Hồ Chí Minh);

- Người bào chữa cho bị cáo là luật sư Vũ Quốc T1 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tại Thành phố H;

(có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: chị Đường Thảo N1, sinh năm 2005, địa chỉ: 1 L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 1/ Em Trần Hoàng T2, sinh năm 2010, không có đăng ký cư trú, sống lang thang;
  • 2/ Em Nguyễn Chí T3, sinh năm 2010, địa chỉ: Tổ D, khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (nay là xã V, tỉnh An Giang);

(bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do hết tiền tiêu xài, Dương Văn K cùng với Nguyễn Chí T3, Trần Hoàng T2 đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 00 giờ ngày 24/5/2025, K, T3, T2 bắt đầu từ quán nước đi bộ lòng vòng trong các con hẻm trên đường L, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (N là Phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) để tìm xe mô tô lấy trộm. Đến khoảng 2 giờ 30 phút cùng ngày, cả ba đi bộ vào trong hẻm A L, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) thì phát hiện có nhiều xe mô tô đang dựng trước nhà số A L, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) mà không có người trông coi. Lúc này, K kêu T2 vào kiểm tra xem có xe nào không khóa cổ hay không, còn K và T3 đứng đầu hẻm để cảnh giới. T2 đi bộ lại tiếp cận vị trí xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, biển số 38P1-012.28 của chị Đường T khi đó được dựng chống nghiêng đầu xe hướng vào trong hẻm và không khóa cổ. Cũng tại địa chỉ này, K và T3 đi lại gần một xe mô tô khác (không rõ biển số), T3 dùng tay trái đẩy thử cổ xe thì thấy xe này bị khóa cổ nên quyết định không lấy.

Sau đó, cả hai tiến lại vị trí xe mô tô biển số 38P1-012.28 đã được T2 kiểm tra. K cầm tay lái, T3 dùng tay trái trả số xe và gạc chân chống lên rồi cả hai đẩy lùi xe mô tô biển số 38P1-012.28 ra đến đầu hẻm A L, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Cả ba cùng đẩy xe mô tô trộm được sang đường N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Khi đến trước nhà số C N, phường T, quận T (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), T2 dùng tay nhấn thử nút ổ khóa gắn ở phuộc trước bên trái của xe thì ổ khóa bật ra làm xe không đấy tiếp được. Thấy vậy, K nhặt cục gạch ống tại lề đường và đập nhiều lần vào ổ khóa để phá khóa nhưng không được.

Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, Tổ tuần tra Công an phường T phát hiện K, T3, T2 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành ra hiệu lệnh kiểm tra hành chính. Lúc này, cả ba bỏ lại xe mô tô biển số 38P1-012.28 vừa trộm cắp được để bỏ chạy bộ tẩu thoát. Tổ tuần tra truy đuổi đến trước nhà số A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) thì khống chế được cả ba và đưa về Công an phường T để làm rõ sự việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, K, T3, T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu nhập ttrong hồ sơ vụ án.

Theo kết luận định giá tài sản số 1043/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng quận T tại thời điểm định giá ngày 24/5/2025: “01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, biển số 38P1-012.28, màu đỏ đen, số khung: RLHJC432XBY275976, số máy: JC43E-6207970, đã qua sử dụng, trị giá 6.500.000 đồng.”

* Vật chứng thu giữ:

  • - Một (01) xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, biển số 38P1-012.28 màu đỏ đen, số khung: RLHJC432XBY275976, số máy: JC43E-6207970, đã qua sử dụng, do bà Nguyễn Thị T4 đứng tên sở hữu;
  • - Một (01) điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, số Imei 1: 862310058698655, số Imei 2: 862310058698648 đã qua sử dụng là điện thoại của Dương Văn K sử dụng cá nhân;
  • - Một (01) cục gạch ống, là cục gạch Dương Văn K dùng để phá ổ khóa đĩa xe mô tô biển số 38P1-012.28;
  • - Một (01) áo khoác tay dài màu đen, một (01) quần Jean ngắn có họa tiết màu trắng ở phía trước, một (01) đôi dép quai ngang sọc đỏ là trang phục Dương Văn K mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;
  • - Một (01) quần Jean ngắn màu đen, một (01) áo khoác tay dài màu đen có logo chữ “Adidas” trước ngực, một (01) đôi dép quai ngang màu nâu đen là trang phục Nguyễn Chí T3 mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;
  • - Một (01) áo thun ngắn màu đen phía trước ngực có in logo “LV” màu vàng, một (01) quần Jean ngắn màu trắng, một (01) đôi dép quai ngang màu đen là trang phục Trần Hoàng T2 mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;
  • - Một (01) điện thoại di động hiệu Vivo V2026 màu đen, số Imei: 860671050760674 đã qua sử dụng là điện thoại của Trần Hoàng T2 sử dụng cá nhân;
  • Các vật chứng còn lại hiện đang nhập kho vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 230/PNK ngày 25/07/2025 của Kho vật chứng thuộc Phân trại tạm giam khu vực quận T, Trại tạm giam C, Công an Thành phố H.

* Về dân sự: chị Đường Thảo N1 đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu gì khác.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKS-KV9 ngày 05 tháng 8 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Dương Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Dương Văn K theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s, i Khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 119; Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30/11/2024 xử phạt bị cáo Dương Văn K mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết phần trách nhiệm dân sự và vật chứng theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Vũ Quốc T1 trình bày: luật sư thống nhất với lời trình bày của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như hoàn cảnh gia đình của bị cáo để từ đó giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời;

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/05/2025, bị cáo Dương Văn K cùng các đối tượng Nguyễn Chí T3 và Trần Hoàng T2 có hành vi lén lút trộm cắp một xe mô tô hiệu Honda Wave RSX biển số 38P1-012.28 màu đỏ đen, số khung: RLHJC432XBY275976, số máy: JC43E-6207970 đã qua sử dụng của chị Đ Thảo Nguyên trị giá 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm ngàn đồng) tại nhà số A L, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội danh như trên là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo mặc dù chưa thành niên nhưng nhận thức được hành vi lén lút trộm cắp chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại các điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên được áp dụng thêm các quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30/11/2024.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với một điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, số Imei 1: 862310058698655, số Imei 2: 862310058698648 thu giữ của bị cáo K, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo;

Đối với một cục gạch ống; một áo khoác dài tay màu đen, một quần Jean ngắn có họa tiết màu trắng phía trước, một đôi dép quai ngang sọc đỏ; một quần Jean ngắn màu đen, một áo khoác tay dài màu đen có logo chữ “Adidas” trước ngực, một đôi dép quai ngang màu nâu đen; một áo thun ngắn tay màu đen phía trước ngực có in logo “LV” màu vàng, một quần Jean ngắn màu trắng, một đôi dép quai ngang màu đen, Hội đồng xét xử xét thấy đây là công cụ và trang phục mà các đối tượng mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp, hiện không còn giá trị sử dụng, không ai có yêu cầu nhận lại nên quyết định tịch thu tiêu hủy;

Đối với một điện thoại di động hiệu Vivo V2026 màu đen, số Imei: 860671050760674 thu giữ của Trần Hoàng T2. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản cá nhân của T2, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho T2.

(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 230/PNK ngày 25/07/2025 của Kho vật chứng thuộc Phân trại tạm giam khu vực quận T, Trại tạm giam C, Công an Thành phố H)

[5] Về trách nhiệm dân sự: Chị Đường Thảo N1 đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu nên miễn cho bị cáo;

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 119; Khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30/11/2024.

Xử phạt:

Dương Văn K 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2025;

* Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tịch thu tiêu hủy một cục gạch ống, một áo khoác tay dài màu đen, một quần Jean ngắn có họa tiết màu trắng phía trước, một đôi dép quai ngang sọc đỏ, một quần Jean ngắn màu đen, một áo khoác tay dài màu đen có logo chữ “Adidas” trước ngực, một đôi dép quai ngang màu nâu đen, một áo thun ngắn tay màu đen phía trước ngực có in logo “LV” màu vàng, một quần Jean ngắn màu trắng, một đôi dép quai ngang màu đen;

Trả cho bị cáo một điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, số Imei 1: 862310058698655, số Imei 2: 862310058698648;

Trả cho Trần Hoàng T2 một điện thoại di động hiệu Vivo V2026 màu đen, số Imei: 860671050760674;

(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 230/PNK ngày 25/07/2025 của Kho vật chứng thuộc Phân trại tạm giam khu vực quận T, Trại tạm giam C, Công an Thành phố H)

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;

Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định pháp luật. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết/tống đạt bản án hợp lệ theo quy định pháp luật.

Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND Khu vực 9;
  • - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PC27 CATP.HCM;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Huỳnh Hoàng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 240/2025/HSST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 240/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Văn K phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger