Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 237/2025/HS-ST

Ngày: 29-9-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Ngọc Phương Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đăng Khoa.

Bà Vương Thị Khánh Loan.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phùng Thị Ngọc Giàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 192/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh N

(Tên gọi khác: Sinh); sinh năm 1985 tại Đồng Nai; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 393, tổ A, khu phố L, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai); Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: Lớp 1/12; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Bùi Thị L, sinh năm 1960; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba, có vợ là Phạm Thị N1, sinh năm 1984, có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt truy nã ngày 17/6/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B.

Những người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: Trung tâm V – Viễn thông Đồng Nai – Tập đoàn B.

Địa chỉ: B đường B, KCN B, phường A, TP B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa; bị hại vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh N, Nguyễn Minh Đ, Tô Chí H1, Phạm Văn T và đối tượng tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là bạn quen biết nhau, không có công việc ổn định. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên N, Đ, H1, T, T1 đã bàn bạc và cùng nhau đi đến các trụ điện trên địa bàn phường A và L, TP ., tỉnh Đồng Nai (Nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) để trộm cắp dây cáp điện viễn thông của Trung tâm V, địa chỉ trụ sở: số B, đường B, Khu công nghiệp B, phường A, TP ., tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) – Là đơn vị trực thuộc Tập đoàn B. Từ tháng 10/2024 đến ngày 03/11/2024, N đã cùng các đối tượng đã thực hiện 08 vụ trộm cắp tài sản như sau:

Vụ thứ 1:

Vào khoảng 14 giờ ngày đầu tháng 10 năm 2024 (Không rõ ngày cụ thể), N, Đ và H1 cùng nhau bàn bạc đi tìm các trụ điện của Trung tâm V tại phường A, TP ., tỉnh Đồng Nai (Nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) để cắt trộm dây cáp điện viễn thông. Sau đó, cả nhóm chuẩn bị 01 cây kéo bằng kim loại màu xanh dài 47cm, 01 cây kéo bằng kim loại màu đỏ trắng dài 20cm và 01 thang nhôm hiệu SUMIKA màu bạc có sẵn tại nhà của N, rồi Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 68E1-260.48, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave (Không rõ biển số) của N, H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha S (không rõ biển số) đi đến trụ điện thuộc tổ A, khu phố B, phường A, TP .. Khi đến nơi Đ dùng thang nhôm trèo lên trụ điện, H1 đứng dưới giữ thang cho Đ, còn N điều khiển xe đi xung quanh cảnh giới. Đương sử dụng kéo kim loại cắt 01 đoạn dây cáp điện dài 100 mét loại 50x2x0.5 đưa xuống cho H1 cuốn lại đưa cho N. Sau đó, Đ, N, H1 mang số dây trộm cắp được về nhà N tại khu phố L, phường T, thành phố T và đốt lấy lõi đồng. N và H1 đem số đồng thu được đến vựa phế liệu của anh Trương Ngô Anh T2, sinh năm 1997, tại địa chỉ khu phố L, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) bán được 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), chia nhau tiêu xài hết.

  • Tài sản bị chiếm đoạt là 100 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5.
  • Theo Kết luận định giá tài sản số 375/KL-HĐĐGTS, ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 100 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5 trị giá là 3.810.000 đồng (Ba triệu tám trăm mười nghìn đồng).

Vụ thứ 2:

Sau vụ thứ 1 khoảng 04 ngày, vào tháng 10/2024 (Không rõ ngày giờ cụ thể), bằng thủ đoạn, công cụ, phương tiện như đã thực hiện ở vụ thứ 1, N, Đ và H1 đi đến trụ điện trên đường Q, trước khu dân cư A, thuộc tổ A, khu phố C, phường A, TP ., tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) để trộm cắp dây cáp điện. Tại đây, H1 dùng thang nhôm trèo lên cột điện và dùng kéo kim loại cắt 01 đoạn dây cáp điện dài 150 mét loại 50x2x0.5. Đương và N đứng giữ thang cho H1 và cảnh giới. Sau đó, Đ, N, H1 đem số dây trộm cắp được về nhà N đốt lấy lõi đồng. N đem số đồng thu được đến vựa phế liệu của anh Trương Ngô Anh T2 bán được 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) và chia nhau tiêu xài hết.

  • Tài sản bị chiếm đoạt là 150 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5.
  • Theo Kết luận định giá tài sản số 375/KL-HĐĐGTS, ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 150 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5 trị giá là 5.715.000 đồng (Năm triệu bảy trăm mươi lăm nghìn đồng).

Vụ thứ 3:

Sau vụ thứ 02 khoảng 03 ngày, vào tháng 10/2024 (Kkhông rõ ngày giờ cụ thể), bằng thủ đoạn, công cụ, phương tiện như đã thực hiện ở trên, N, Đ và H1 tiếp tục rủ nhau đi đến trụ điện trên đường Q, thuộc tổ B, khu phố D, phường A, TP ., tỉnh Đồng Nai (Nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) để trộm cắp dây cáp điện. Tại đây, Đ dùng thang nhôm trèo lên trụ điện và dùng kéo kim loại cắt 01 đoạn dây cáp điện dài 70 mét loại 50x2x0.5. N và H1 đứng giữ thang cho Đ và cảnh giới. Sau đó, Đ, N, H1 đem số dây trộm cắp được về nhà N đốt lấy lõi đồng. N và H1 đem số đồng thu được đến vựa phế liệu của anh Trương Ngô Anh T2 bán được 800.000 đồng (T3 trăm nghìn đồng), chia nhau tiêu xài hết.

  • Tài sản bị chiếm đoạt là 70 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5.
  • Theo Kết luận định giá tài sản số 375/KL-HĐĐGTS, ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 70 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5 trị giá là 2.667.000 đồng (Hai triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Vụ thứ 4:

Sau vụ thứ 03 khoảng 02 ngày, vào tháng 10/2024 (Không rõ ngày giờ cụ thể), cũng với thủ đoạn và công cụ như vụ trên, N điều khiển xe mô tô nhãn hiêu Honda Wave (Không rõ biển số), Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 68E1-260.48, quay lại trụ điện trên đường Q (Trụ điện đã trộm cắp vụ thứ 3), thuộc khu phố D, phường A, TP ., tỉnh Đồng Nai (Nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) để tiếp tục cắt trộm dây cáp điện. Đương dùng thang nhôm trèo lên trụ điện và dùng kéo kim loại cắt được 01 đoạn dây cáp điện dài 120m loại 50x2x0.5. N đứng giữ thang cho Đ và cảnh giới. Đương và N đem số dây trộm cắp được về nhà N đốt lấy lõi đồng. N đem số đồng thu được đến vựa phế liệu của anh Trương Ngô Anh T2 bán được 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Đương và N chia nhau tiêu xài hết.

  • Tài sản bị chiếm đoạt là 120 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5.
  • Theo Kết luận định giá tài sản số 375/KL-HĐĐGTS, ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 120 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5 trị giá là 4.572.000 đồng (Bốn triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn đồng).

Vụ thứ 5:

Sau vụ thứ 04 khoảng 03 ngày, vào tháng 10/2024 (Không rõ ngày giờ cụ thể), cũng bằng thủ đoạn, công cụ như trên, N điều khiển xe mô tô nhãn hiêu Honda Wave (Không rõ biển số) của N, H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha S (Không rõ biển số) đi đến trụ điện trước Công ty T6 thuộc tổ H, khu phố C, phường A, TP ., tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) để trộm cắp dây cáp điện. H1 dùng thang nhôm trèo lên trụ diện và dùng kéo kim loại cắt được 01 đoạn dây cáp điện dài 40 mét loại 50x2x0.5, N đứng giữ thang cho H1 và cảnh giới. Sau đó, N và H1 đem số dây trộm cắp được về nhà N đốt lấy lõi đồng, rồi đem đến vựa phế liệu của anh Trương Ngô Anh T2 bán được 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). N và H1 chia nhau tiền xài hết.

  • Tài sản bị chiếm đoạt là 40 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5.
  • Theo Kết luận định giá tài sản số 375/KL-HĐĐGTS, ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 40 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5 trị giá là 1.524.000 đồng (Một triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn đồng).

Vụ thứ 6:

Khoảng 16 giờ ngày 24/10/2024, N, Đ, T và T1 bàn bạc, rủ nhau đi tìm trụ điện ở phường L, TP ., tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) để cắt trộm dây cáp điện. Cả nhóm chuẩn bị 01 cây kéo bằng kim loại màu xanh dài 47cm, 01 cây kéo bằng kim loại màu đỏ trắng dài 20cm và 01 thang nhôm hiệu SUMIKA màu bạc. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 68E1-260.48, N điều khiển xe mô tô nhãn hiêu Honda Wave (Không rõ biển số) chở T1, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển số 60B9-197.41 của T đi trộm cắp. Khi đi đến trụ điện trước cổng chợ L1, thuộc khu phố A, phường L, TP . (Nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) Đ dùng thang nhôm trèo lên trụ điện và dùng kéo kim loại cắt được 01 đoạn dây cáp điện dài 83 mét loại 50x2x0.5 và 01 đoạn dây cáp điện dài 41 mét loại 100x2x0.5 đưa xuống cho T, T1 cuốn lại, còn N điều khiển xe chạy vòng ngoài cảnh giới. Sau đó, cả nhóm đem số dây trộm được về nhà N đốt lấy lõi đồng. Đương và T đem số đồng thu được đến vựa phế liệu của anh Trương Ngô Anh T2 bán được 5.700.000 đồng (Năm triệu bảy trăm nghìn đồng) và chia nhau tiêu xài hết.

  • Tài sản bị chiếm đoạt là 83 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5 và 41 mét dây cáp điện viễn thông loại 100x2x0.5.
  • Theo Kết luận định giá tài sản số 375/KL-HĐĐGTS, ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 83 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5 và 41 mét dây cáp điện viễn thông loại 100x2x0.5 tổng trị giá là 6.483.300 đồng (Sáu triệu bốn trăm tám mươi ba nghìn ba trăm đồng).

Vụ thứ 7:

Khoảng 15 giờ ngày 02/11/2024, với thủ đoạn, công cụ, phương tiện như đã thực hiện ở vụ thứ 6. N, Đ, T và T1 tiếp tục đi đến trụ điện trước nhà nghỉ T7 thuộc khu phố A, phường L, TP. (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) để trộm cắp dây cáp điện. Tại đây, Đ dùng thang nhôm trèo lên trụ điện và sử dụng kéo kim loại cắt được 01 đoạn dây cáp điện dài 88.5 mét loại 50x2x0.5 và 01 đoạn dây cáp điện dài 44 mét loại 100x2x0.5 đưa xuống cho T, T1 cuốn lại, còn N điều khiển xe chạy vòng ngoài cảnh giới. Sau đó, cả nhóm đem số dây trộm cắp được về nhà N đốt lấy lõi đồng. Đương và T đem số đồng thu được đến vựa phế liệu của anh Trương Ngô Anh T2 bán được 6.140.000 đồng (Sáu triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng), chia nhau tiêu xài hết.

  • Tài sản bị chiếm đoạt là 88,5 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5 và 44 mét dây cáp điện viễn thông loại 100x2x0.5.
  • Theo Kết luận định giá tài sản số 375/KL-HĐĐGTS, ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 88,5 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5 và 44 mét dây cáp điện viễn thông loại 100x2x0.5 tổng trị giá là 6.935.850 đồng (Sáu triệu chín trăm ba mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi đồng).

Vụ thứ 8:

Vào khoảng 11 giờ ngày 03/11/2024, cũng với thủ đoạn, công cụ như trên, N, Đ và T1 rủ nhau đi đến trụ điện số C057, thuộc khu phố B, phường L, TP . (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) để trộm cắp dây cáp điện. Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 68E1-260.48, N điều khiển xe mô tô nhãn hiêu Honda Wave (Không rõ biển số), T1 điều khiển xe mô tô biển số 60V3-7868 (xe của Đ cho T1 mượn). Khi đến trụ điện số C057 thì Đ dùng thang nhôm để trèo lên trụ điện và sử dụng cây kéo kim loại cắt 01 đoạn dây cáp điện dài 26 mét loại 20x2x0.5 đưa xuống cho T1 quấn dây lại, còn N điều khiển xe chạy xung quanh để cảnh giới. Khi Đ vừa leo trên trụ điện xuống thì bị anh Trần Thanh T4, sinh năm 1982, ngụ tại khu phố B, phường L, TP . (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai), là nhân viên của Trung tâm V, phát hiện và giữ Đương lại, báo Công an phường L đưa Đ về trụ sở làm việc, còn N và T1 bỏ chạy thoát.

  • Tài sản bị chiếm đoạt là 26 mét dây cáp điện viễn thông loại 20x2x0.5.
  • Theo Kết luận định giá tài sản số 375/KL-HĐĐGTS, ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 26 mét dây cáp điện viễn thông loại 20x2x0.5 trị giá là 390.000 đồng (Ba trăm chín mươi nghìn đồng).

Tổng cộng N, Đ, H1, T và T1 đã trộm cắp được 651.5 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5; 85 mét dây cáp điện viễn thông loại 100x2x0.5 và 26 mét dây cáp điện viễn thông loại 20x2x0.5. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt theo Kết luận định giá tài sản số 375/KL-HĐĐGTS, ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B là 32.097.150 đồng (Ba mươi hai triệu không trăm chín mươi bảy nghìn một trăm năm mươi đồng).

Qua điều tra xác định được Tô Chí H1 và Phạm Văn T đã cùng Đ, N thực hiện các vụ trộm cắp dây cáp điện viễn thông như trên, nên Cơ quan điều tra tiến hành bắt giữ H1 và T để xử lý.

Ngày 29/4/2025, Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai) đã xử phạt Nguyễn Minh Đ, Tô Chí H1 và Phạm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đối với Nguyễn Thanh N do bỏ trốn nên bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B (Nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ) khởi tố bị can và truy nã. Đến ngày 17/6/2025, N bị bắt giữ.

Tại Cơ quan diều tra, Nguyễn Thanh N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Vật chứng vụ án:

  • 01 cây kéo bằng kim loại cán bọc nhựa màu xanh dài 47cm; 01 cây kéo bằng kim loại cán bọc nhựa màu đỏ trắng dài 20cm; 01 thang nhôm hiệu SUMIKA màu bạc; 01 xe mô tô biển số 60B9-197.41, nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu xám bạc đen, số khung: RLCN2B5205Y049297, số máy: 2B52049297; 01 xe mô tô biển số 60V3-7868, nhãn hiệu Wave, màu sơn xanh, số khung: RRSWCH5RS61001306, số máy: không có, dung tích: 107cm3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xám, số Imei: 860511051801806/78 là công cụ, phượng tiện sử dụng vào mục đích phạm tội, đã được xử lý trong vụ án Nguyễn Minh Đ và đồng bọn phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 247/2025/HSST, ngày 29/4/2025 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa (nay là Toà án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai).
  • Xe mô tô nhãn hiêu Honda W (Không rõ biển số), là phương tiện N sử dụng đi phạm tội. Do N đã bán xe cho người không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
  • Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 68E1-260.48, số khung RLCUE1710HY174942, số máy E3T6E254591 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu vàng, số I: 866167060348216 là tài sản của chị Tô Tuyết M cho Đ mượn, không biết Đ sử dụng để phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị M.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha S (không rõ biển số) H1 sử dụng đi phạm tội là tài sản của chị Lý Thị Hồng T5, sinh năm 1996. Chị T5 cho H1 mượn xe sử dụng, không biết H1 đi phạm tội. Hiện nay chị T5 đã bán chiếc xe trên. Cơ quan điều tra không thu giữ xe.
  • 610 kg dây cáp kim loại bằng sắt là tài sản của anh Trương Ngô Anh T2. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T2.
  • 26 mét dây cáp điện viễn thông loại 20x2x0.5 là tài sản của Trung tâm V bị chiếm đoạt. Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện của Trung tâm V.
  • Đối với 651.5 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5 và 85 mét dây cáp điện viễn thông loại 100x2x0.5 bị chiếm đoạt, do đã tiêu thụ nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

* Về trách nhiệm dân sự:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2025/HSST, ngày 29/4/2025 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai) đã tuyên buộc các bị cáo Nguyễn Minh Đ, Tô Chí H1 và Phạm Văn T liên đới bồi thường cho Trung tâm V số tiền theo yêu cầu là 32.097.150 đồng (Ba mươi hai triệu không trăm chín mươi bảy nghìn, một trăm năm mươi đồng). Anh Nguyễn Huy G (Đại diện Trung tâm V) không yêu cầu bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét.

Tại Cáo trạng số: 170/CT-VKSKV1 ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N từ 24 đến 26 tháng tù giam.

Bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T, Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai:

    Trong quá trình điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cũng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên nên các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đúng theo quy định của pháp luật.

  2. Về thủ tục tố tụng:

    Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị hại. Tại phiên tòa hôm nay, bị hại vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của bị hại không gây trở ngại đến việc xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự; đồng thời, tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị hại là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

  3. Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:

    Từ tháng 10/2024 đến ngày 03/11/2024, tại địa bàn các phường A và L, TP ., tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) Nguyễn Thanh N, Nguyễn Minh Đ, Tô Chí H1, Phạm Văn T và đối tượng tên T1 đã thực hiện 08 vụ trộm cắp tài sản là dây cáp điện viễn thông của Trung tâm V, cụ thể:

    Vụ thứ 1:

    Vào khoảng 14 giờ ngày đầu tháng 10 năm 2024 (không rõ ngày cụ thể) N, Đ và H1 đi đến trụ điện thuộc tổ A, khu phố B, phường A, TP . trộm cắp 100 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5, đốt lấy lõi đồng, rồi đem bán phế liệu được 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

    Vụ thứ 2:

    Sau vụ thứ 1 khoảng 04 ngày N, Đ và H1 đi đến trụ điện trên đường Q, trước khu dân cư A, thuộc tổ A, khu phố C, phường A, TP . trộm cắp 150 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5, đốt lấy lõi đồng rồi đem bán phế liệu được 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

    Vụ thứ 3:

    Sau vụ thứ 02 khoảng 03 ngày, N, Đ và H1 tiếp tục đi đến trụ điện trên đường Q, thuộc tổ B, khu phố D, phường A, TP . trộm cắp 70 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5, đốt lấy lõi đồng rồi đem bán phế liệu được 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).

    Vụ thứ 4:

    Sau vụ thứ 03 khoảng 02 ngày, N và Đ quay lại trụ điện trên đường Q, thuộc khu phố D, phường A, TP . (trụ điện đã trộm cắp vụ thứ 3) để tiếp tục trộm cắp 120 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5, đốt lấy lõi đồng rồi đem bán phế liệu được 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

    Vụ thứ 5:

    Sau vụ thứ 04 khoảng 03 ngày, N và H1 đi đến trụ điện trước Công ty T6 thuộc tổ H, khu phố C, phường A, TP . trộm cắp 40 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5, đốt lấy lõi đồng rồi đem bán phế liệu được 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

    Vụ thứ 6:

    Khoảng 16 giờ ngày 24/10/2024, N, Đ, T và T1 đi đến trụ điện trước cổng chợ L1, thuộc khu phố A, phường L, TP . trộm cắp 83 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5 và 41 mét dây cáp điện viễn thông loại 100x2x0.5, đốt lấy lõi đồng rồi đem bán phế liệu được 5.700.000 đồng (Năm triệu bảy trăm nghìn đồng).

    Vụ thứ 7:

    Khoảng 15 giờ ngày 02/11/2024, N, Đ, T và T1 đi đến trụ điện trước nhà nghỉ T7 thuộc khu phố A, phường L, TP . trộm cắp 88,5 mét dây cáp điện viễn thông loại 50x2x0.5 và 44 mét dây cáp điện viễn thông loại 100x2x0.5, đốt lấy lõi đồng rồi đem bán phế liệu được 6.140.000 đồng (Sáu triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng).

    Vụ thứ 8:

    Vào khoảng 11 giờ ngày 03/11/2024, N, Đ và T1 đi đến trụ điện số C057, thuộc khu phố B, phường L, TP . trộm cắp 26 mét dây cáp điện viễn thông loại 20x2x0.5. Khi Đ đang thực hành vi thì bị phát hiện, xử lý. N và T1 chạy thoát. Đến ngày 17/6/2025, N bị bắt giữ.

    Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt có giá trị định giá là 32.097.150 đồng (Ba mươi hai triệu không trăm chín mươi bảy nghìn, một trăm năm mươi đồng), trong đó N thực hiện 08 vụ trộm, chiếm đoạt 32.097.150 đồng; Đương thực hiện 07 vụ trộm cắp, chiếm đoạt tổng số tiền 30.573.150 đồng (Ba mươi triệu năm trăm bảy mươi ba nghìn một trăm năm mươi đồng); H1 thực hiện 04 vụ trộm cắp, chiếm đoạt tổng số tiền 13.716.000 đồng (Mười ba triệu bảy trăm mười sáu nghìn đồng) và T thực hiện 02 vụ trộm cắp, chiếm đoạt tổng số tiền 13.419.150 đồng (Mười ba triệu bốn trăm mười chín nghìn một trăm năm mươi đồng).

    Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi thực hiện tội phạm của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thể hiện tại hồ sơ vụ án; phù hợp với những nội dung mà bản Cáo trạng đã viện dẫn và truy tố.

    Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh N đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

  4. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ.

    Gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, có đầy đủ khả năng nhận thức pháp luật. Bị cáo biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt và cũng để răn đe và phòng ngừa chung.

  5. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

  6. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

  7. Đối với đối tượng tên T1 (Không rõ nhân thân, lai lịch),

    Cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là đúng quy định.

    Đối với anh Trương Ngô Anh T2, khi mua đồng phế liệu không biết là tài sản do N, Đ, H1, T và T1 phạm tội mà có, nên không có căn cứ xử lý hình sự anh T2.

  8. Về dân sự:

    Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2025/HSST, ngày 29/4/2025 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa nên không đặt ra xem xét.

  9. Về xử lý vật chứng:

    Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2025/HSST, ngày 29/4/2025 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa nên không đặt ra xem xét.

  10. Về tiền án phí:

    Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  11. Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai

    phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh N 02 (hai) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2025.

  2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh N phải nộp số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Người tham gia tố tụng khác;
  • VKSND khu vực 1 – Đồng Nai;
  • Công an tỉnh Đồng Nai;
  • THADS tỉnh Đồng Nai;
  • VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đinh Trần Ngọc Phương Trang

9

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 237/2025/HS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 237/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger