| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Bản án số: 234/2025/HS-ST | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày 27 tháng 11 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Phương Thanh
Thẩm phán: bà Lê Thị Dung (Toà Gia đình)
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Danh Lơi, ông Lê Như Hạnh và ông Lê Quang Vinh
Thư ký phiên toà: bà Hoàng Thị Phi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Đặng Thị Thanh Thắm - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 214/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 335/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Thị Ngọc A
sinh ngày 11 tháng 9 năm 1993, tại Thanh Hóa; căn cước công dân số: 038193006316, nơi đăng ký thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: đội 1, nông trường T, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Phạm Văn T và bà Lưu Thị T1; chồng là Nguyễn Hữu N (đã ly hôn) và có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Tại Bản án số 10/2020/HSST ngày 05/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá (nay là TAND khu vực 7 – Thanh Hoá) đã xử phạt bị cáo 10 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”;
- - Tại Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 30/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá (nay là TAND khu vực 1 - Thanh Hoá) đã phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; Hiện chưa thi hành án phí HSST 200.000 đồng; phạt sung quỹ Nhà nước 50.000.000đ; Tịch thu sung công Nhà nước tổng số tiền 2.428.205.479đ;
Bị bắt tạm giam ngày 18/7/2025; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
- - Người bào chữa cho bị cáo: bà Bùi Thị P, Luật sư Công ty L, đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hoá - Địa chỉ: Số B, đường L, phường H, tỉnh Thanh Hóa (có mặt);
- - Bị hại: chị Lường Thị N1, sinh năm 1995 và anh Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1992 - Đều trú tại: Đường T, khu phố H, phường S, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt chị N1, anh T2 có đơn xin xét xử vắng mặt);
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Lường Hữu H, sinh năm 1982 – Nơi ở hiện nay: Số B Phố L, phường H, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
- + Bà Lưu Thị T1, sinh năm 1974 - Trú tại: Đ, nông trường T, xã T, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
- + Anh Sử Phi Đ, sinh năm 1992 - Trú tại: Số A, đường L, phường H, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Gia đình chị Lường Thị N1, sinh năm 1995 và chồng Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1992 cùng trú tại khu phố H, phường S, tỉnh Thanh Hóa có nhu cầu vay vốn ngân hàng để mua xe điện kinh doanh chở khách du lịch. Do trước đó thửa đất số 238, tờ bản đồ số 35, diện tích 98m² tại khu phố H, phường S, tỉnh Thanh Hóa thuộc sở hữu hợp pháp của vợ chồng T2 - N đang thế chấp ngân hàng A1 vay số tiền 300.000.000 đồng; không có tiền để giải chấp đối với khoản vay này nên không lấy được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra khỏi ngân hàng A1 thế chấp cho ngân hàng khác để vay số tiền 800.000.000 đồng;
Do có mối quan hệ quen biết từ trước nên ngày 13/6/2024, chị N1 liên hệ với Phạm Thị Ngọc A, sinh năm 1993, ở Đ, nông trường T, xã T, tỉnh Thanh Hóa ( trước đây Ngọc A làm cộng tác viên thời gian ngắn tại Ngân hàng TMCP P1 - O) trao đổi thông tin gia đình N1 đang vay thế chấp tại ngân hàng A1 số tiền 300.000.000đ muốn chuyển vay tại ngân hàng khác để được vay số tiền 800 triệu đồng; Thời điểm này Ngọc A không còn làm việc tại bất kỳ ngân hàng nào nhưng Ngọc A vẫn đồng ý nhận làm hồ sơ vay vốn và yêu cầu Ngoãn gửi thông tin tài sản thế chấp là thửa đất số 238, tờ bản đồ số 35, diện tích 98m² tại khu phố H, phường S, tỉnh Thanh Hóa kèm hình ảnh nhà trên đất cho Ngọc A.
Sáng ngày 14/6/2024, Ngọc A nhờ bạn kiểm tra thông tin tín dụng (CIC) của vợ chồng T2, N1 và báo cho N1 biết về việc N1 đang nợ xấu do vay trả góp điện thoại của công ty T5 shinsei hơn 7 triệu nên không thể vay vốn ngân hàng được; Ngọc A đã đưa ra thông tin gian dối với chị N1, anh T2 muốn vay được vốn của Ngân hàng cần phải có tài khoản tiết kiệm làm tài khoản nguồn để chứng minh khả năng tài chính.
Biết vợ chồng T2, N1 không có tiền để rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại ngân hàng N3 về, Ngọc A liên hệ với anh Sử Phi Đ, sinh năm 1992, trú tại số A đường L, phường H, tỉnh Thanh Hóa (là người quen của Ngọc A) đặt vấn đề cho vợ chồng chị N1 vay tiền và nói với anh Đ vay tiền để đảo sổ ngân hàng; vợ chồng T2, N1 thống nhất vay số tiền 1.230.000.000 đồng của anh Đ trong thời hạn 10 ngày, từ ngày 18/6/2024 đến ngày 28/6/2024, lãi suất 20%; Thỏa thuận vay tiền xong Ngọc A nói với N1 “ Mai chị (tức Ngọc A) đi với anh làm cùng ngân hàng xuống để hỗ trợ rút bìa ra trước, nếu anh đi cùng chị hỏi đang vay ngân hàng bao nhiêu thì nói là 1.230.000.000 đồng”; N1 hỏi lại “sao lại nói vay 1.230.000.000 đồng” Ngọc A nói “ để em rút bìa trong ngân hàng 300 triệu đồng, còn bao nhiêu làm tài khoản nguồn”.
Sáng ngày 18/6/2024, Ngọc A dẫn Nguyễn Đức T3, sinh năm 1990, trú tại số A, Đường L, phường H, tỉnh Thanh Hóa (là em vợ của anh Đ) đến nhà vợ chồng N1 để xem nhà, lập hợp đồng vay tiền đảo nợ ngân hàng giữa Sử Phi Đ và vợ chồng Tùng N2. Lập hợp đồng xong, anh Đ chuyển khoản 1.230.000.000 đồng từ tài khoản số 0523668666 của Đ đến tài khoản số 3590205996382 của Nguyễn Hữu T2. Khi nhận được tiền, vợ chồng chị N2 cùng Ngọc A và anh Nguyễn Đức T3 ra ngân hàng A1 dùng số tiền vừa nhận được tất toán khoản vay 300.000.000 đồng và lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lấy giấy chứng nhận xong thì anh Đ xuống thành phố S rồi đi cùng Ngọc A, anh T3 đến Ủy ban nhân dân thành phố S để xóa thế chấp; do Nguyễn Hữu T2 chưa làm định danh mức hai nên cả ba đến Đội Quản lý hành chính Công an thành phố S để T2 làm định danh mức hai nhưng đã hết giờ làm việc.
Chiều cùng ngày anh Đ, Ngọc A, T2 đến Đội quản lý hành chính - Công an thành phố S để làm định danh mức hai. Tại đây anh Đ ngồi bên ngoài đợi còn Ngọc A, T2 ngồi bên trong khu vực tiếp dân của Đội Quản lý hành chính Công an thành phố S. Trong lúc đợi làm định danh Ngọc A đã gửi cho T2 số tài khoản 19036500535011 mở tại ngân hàng T6 mang tên Lưu Thị Ngọc M, sinh năm 2002, trú tại Đội 1, N xã T, tỉnh Thanh Hóa (là em họ Ngọc A) và yêu cầu Nguyễn Hữu T2 chuyển số tiền 920 triệu mà anh T2 mới nhận được từ Đ để làm tài khoản nguồn. Tin lời Ngọc A là thật nên anh T2 đã chuyển khoản 919.999.999 đồng vào tài khoản của Lưu Thị Ngọc M. Nhận được tiền từ Nguyễn Hữu T2, khi có nhu cầu sử dụng Ngọc A liên hệ với M, yêu cầu M chuyển tiền cho Ngọc A hoặc chuyển đến các tài khoản khác do Ngọc A cung cấp để sử dụng trả các khoản tiền nợ của cá nhân, không sử dụng số tiền trên làm tài khoản nguồn để làm hồ sơ vay vốn cho vợ chồng chị N2 như thông tin mà Ngọc A đưa ra.
Sau khi chuyển số tiền 919.999.999 đồng theo yêu cầu của Ngọc A nhưng không thấy làm hồ sơ vay vốn; vợ chồng T2, N2 nhiều lần gọi điện, nhắn tin thúc giục Ngọc A; Ngọc A liên tục đưa các thông tin như hồ sơ đã được duyệt, hồ sơ đang trình lên lãnh đạo....Sau gần 02 tháng chờ đợi vẫn không vay được vốn, qua tìm hiểu vợ chồng T2 Ngoãn biết được thông tin việc vay vốn ngân hàng không phải lập tài khoản nguồn nên đã liên tục đòi Ngọc A trả 919.999.999 đồng nhưng Ngọc A không trả lại. Ngày 13/8/2024, chị Lường Thị N1, anh Nguyễn Hữu T2 đã làm đơn tố cáo Ngọc A.
Kết quả xác minh tại các Ngân hàng:
Ngày 13/9/2024, Ngân hàng TMCP P1 (O) có công văn số 24/2023/OCB-CNTH cung cấp thông tin nhân sự về thời gian công tác tại O của Phạm Thị Ngọc A như sau: tại chi nhánh T7 nhận việc từ ngày 06/11/2023 đến ngày 08/12/2023 thì thôi việc; Tại phòng G ở C L, phường N, thành phố T: nhận việc: 03/06/2024, ngày thôi việc: 03/06/2024. Trong thời gian trên Phạm Thị Ngọc A không ký hợp đồng thử việc, hợp đồng lao động với OCB.
Ngân hàng P1 (O) có Công văn số 01.2003 ngày 20/3/2025: tiến hành kiểm tra trên hệ thống, không có tài khoản tiết kiệm nào mang tên Lường Thị N1;
Ngày 20/3/2025, Ngân hàng N3 chi nhánh T7 (A1 ) có Công văn số 550/NHNo.BTH-TH cung cấp thông tin: ... hiện nay A1 chưa có quy định phải hướng dẫn khách hàng lập tài khoản tiết kiệm để chứng minh khả năng tài chính nhằm mục đích được vay vốn và không có quy định nhân viên yêu cầu khách hàng chuyển tiền làm sổ tiết kiệm vào tài khoản cá nhân do nhân viên Ngân hàng cung cấp;
Ngày 19/3/2025, Ngân hàng TMCP Đ1 chi nhánh T7 (B) có Công văn số 460/BIDV.TH-QLRR cung cấp thông tin: B không hướng dẫn khách hàng lập tài liệu tiết kiệm để chứng minh khả năng tài chính nhằm mục đích vay vốn; Trường hợp khách hàng lập tài khoản tiết kiệm có thể cầm sổ tiết kiệm để vay vốn tại B; việc nhân viên ngân hàng yêu cầu khách hàng chuyển tiền làm sổ tiết kiệm vào tài khoản cá nhân nhân viên ngân hàng cung cấp là sai quy định;
Kết quả giám định kỹ thuật số:
Quá trình điều tra bị hại cung cấp file ghi âm cuộc nói chuyện giữa bị hại với Ngọc A về việc nhờ vay vốn ngân hàng, nội dung hội thoại trong các file ghi âm thể hiện: cuộc nói chuyện giữa Phạm Thị Ngọc A và Lường Thị N1, trong đó Ngọc A luôn đưa ra thông tin không đúng sự thật, hứa hẹn với N1 về việc đã làm hồ sơ vay vốn cho N1 đã trình lên lãnh đạo ngân hàng, mặc dù tài khoản do Ngọc A cung cấp để yêu cầu T2 (chồng N1) chuyển tiền vào nhưng Ngọc A luôn nói đó lại tài khoản nguồn của vợ chồng N1 để vợ chồng T2, N1 tin tưởng. Tại bản kết luận giám định số 8074/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của V Bộ C kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung âm thanh trong trưng cầu giám định; nội dung hội thoại trong các file ghi âm mẫu cần định đã được chuyển thành văn bản.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là anh T2, chị N1 yêu cầu Phạm Thị Ngọc A phải bồi thường số tiền 919.999.999 đồng; Ngày 09/9/2024, Ngọc A chuyển khoản cho bị hại 200 triệu đồng qua tài khoản của anh S Phi Định;
Tại Cáo trạng số: 15/CT-VKS-P2 ngày 27/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Phạm Thị Ngọc A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm a khoản 4 điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc A từ 13 năm đến 14 tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2025.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do có hoàn cảnh khó khăn;
- - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS; Các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự buộc:
- + Bị cáo Phạm Thị Ngọc A phải hoàn trả cho vợ chồng chị N1, anh T2 400.999.999₫;
- + Anh Lường Hữu H trả cho vợ chồng chị N1, anh T2: 120.000.000đ;
- + Bà Lưu Thị T1 trả cho vợ chồng chị N1, anh T2: 199.000.000đ;
- + Dành quyền khởi kiện một vụ án dân sự khác cho anh S Phi Định và vợ chồng chị Lường Thị N1, anh Nguyễn Hữu T2 liên quan đến việc anh T2, chị N1 đang còn vay của anh Đ số tiền 1.030.000.000đ và anh Đ đang cầm trích lục thửa đất số 238, tờ bản đồ số 35, diện tích 98m² tại khu phố H, phường S, tỉnh Thanh Hóa.
- - Về xử lý vật chứng: Không;
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DS theo quy định của pháp luật.
Luật sư bào chữa có ý kiến: Đồng ý với quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa về tội danh và khung hình phạt. Tuy nhiên hoàn cảnh bị cáo khó khăn, mới ly hôn chồng, nuôi cả hai con nhỏ, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 200.000.000đ chuyển vào tài khoản của anh S Phi Định nên đề nghị HĐXX áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để áp dụng Điều 54 của BLHS, giảm cho bị cáo phần hình phạt thấp hơn so với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát;
Bị cáo Phạm Thị Ngọc A đồng ý với quan điểm của Luật sư và Đại diện viện kiểm sát, thừa nhận đã chuyển khoản cho anh S Phi Định nhằm khắc phục 1 phần hậu quả cho vợ chồng chị N1, anh T2; Số tiền bị cáo chuyển khoản cho anh H và mẹ đẻ nhằm mục đích trả nợ tuy nhiên đây là tiền của vợ chồng anh T2, chị N1 đã vay của anh Đ, bị cáo đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát khi tuyên buộc bà T1 và anh H phải trả lại số tiền này cho vợ chồng chị N1 và, anh T2; Bị cáo cũng chấp nhận số tiền còn lại sẽ hoàn trả cho vợ chồng chị N1 và anh T2 khi bị cáo thi hành án tù xong;
Vợ chồng chị N1 và anh T2 chấp nhận việc bị cáo Ngọc A đã hoàn trả số tiền 200.000.000đ bằng việc chuyển khoản vào số tài khoản của anh S Phi Định và đề nghị HĐXX xét xử bị cáo theo đúng quy định của pháp luật;
Anh H và bà T1 đồng ý với đề nghị của đại diện viện kiểm sát trong việc hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã nhận của bị cáo Ngọc A cho vợ chồng chị N1 và anh T2;
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hiện có hoàn cảnh khó khăn, sau ly hôn một mình nuôi hai con nhỏ, hiện nay con đang nhờ bố mẹ đẻ nuôi nên xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về nuôi con;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Lợi dụng lòng tin, sự thiếu hiểu biết của anh Nguyễn Hữu T2, chị Lường Thị N1, trong khoảng thời gian từ ngày 13-18/6/2024, Phạm Thị Ngọc A không làm việc ở bất kỳ Ngân hàng nào nhưng đưa ra thông tin gian dối hướng dẫn cho vợ chồng T2 - Ngoãn muốn vay được vốn của Ngân hàng cần phải có tài khoản tiết kiệm làm tài khoản nguồn để chứng minh khả năng tài chính. Ngày 18/6/2024, khi Ngọc A đi cùng T2 đến Đội quản lý hành chính - Công an thành phố S để làm định danh mức hai, trong lúc đợi làm định danh Ngọc A đã gửi cho T2 số tài khoản 19036500535011 mở tại ngân hàng T6 mang tên Lưu Thị Ngọc M (em họ Ngọc A) yêu cầu Nguyễn Hữu T2 chuyển số tiền 920 triệu đồng để làm tài khoản nguồn. Tin lời Ngọc A là sự thật nên anh T2 đã chuyển 919.999.999 đồng vào tài khoản Lưu Thị Ngọc M. Chờ đợi gần 02 tháng sau không thấy được vay vốn của bất kỳ Ngân hàng nào, qua tìm hiểu vợ chồng T2 Ngoãn biết được thông tin việc vay vốn ngân hàng không phải lập tài khoản nguồn nên yêu cầu Ngọc A trả tiền nhưng Ngọc A không trả lại mà liên tục nói dối hồ sơ đang trình lên lãnh đạo, hồ sơ đã được duyệt.... Số tiền chiếm đoạt được của vợ chồng Tùng N2, Ngọc A đã dùng tiền trả nợ, chi tiêu cá nhân;
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Thị Ngọc A đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Số tiền bị cáo chiếm đoạt của vợ chồng chị N2 anh T2 chính là số tiền 919.999.999 bị cáo yêu cầu chị N2 anh T2 chuyển vào tài khoản của Lưu Thị Ngọc M, do đó hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000đ trở lên”, theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm, hoặc tù chung thân.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và là người có trình độ học vấn cao, đã từng tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến phạm tội, đã từng bị xét xử hai lần về các tội phạm do lỗi cố ý.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã nhận tội, thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; Bị cáo là phụ nữ một đơn thân, sau ly hôn một mình nuôi cả hai con và hiện nay mẹ đẻ của bị cáo đang nuôi con cho bị cáo. Bị cáo có thân nhân (ông bà ngoại) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước; bị cáo cũng đã khắc phục được 1 phần hậu quả khi chuyển cho anh S Phi Định số tiền 200.000.000đ và được anh Đ công nhận sẽ trừ vào tổng nợ đối với vợ chồng chị N2 anh T2, nên đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng việc bị cáo chuyển khoản 200.000.000đ vào tài khoản của anh Đ chính là tiền bồi thường khắc phục hậu quả cho vợ chồng anh T2, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS, do đó đề nghị HĐXX áp dụng Điều 54 BLHS để xử dưới khung cho bị cáo và chịu hình phạt thấp hơn so với Đại diện Viện kiểm sát đề nghị. HĐXX thấy rằng: Tại thời điểm bị cáo chuyển số tiền 200.000.000₫ vào tài khoản của anh S Phi Định thì giao dịch vay nợ - thế chấp tài sản giữa anh Đ và vợ chồng anh T2 đã xong, bị cáo chuyển khoản cho anh Đ là do bị anh Đ phát hiện ra hành vi sai trái chứ không phải bị cáo chuyển cho anh Đ nhằm mục đích khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho vợ chồng anh T2, nên bị cáo chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS là phù hợp.
Dó đó HĐXX căn cứ vào Điều 50 của BLHS về “căn cứ quyết định hình phạt” để lên cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc, nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa, làm gương trong xã hội;
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 100.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, trước khi phạm tội là mẹ đơn thân và hình phạt chính là phạt tù có thời hạn đã nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Số tiền bị cáo chiếm đoạt của vợ chồng anh T2 và chị N2 là 919.999.999đ; Trong số này bị cáo đã chuyển cho anh Sử Phi Đ, chuyển cho anh H và bà T1 còn 400.999.999₫ bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết nên buộc bị cáo phải hoàn trả lại 400.999.999đ cho vợ chồng anh T2, chị N2;
Tại phiên tòa, anh Sử Phi Đ, anh Lường Hữu H và bà Lưu Thị T1 cũng đã nhận thức được việc làm của bị cáo nên đều thống nhất: Số tiền 200.000.000đ bị cáo chuyển khoản cho anh Đ sẽ được trừ vào tổng số tiền vợ chồng chị N2 nợ anh Đ; Anh H có trách nhiệm trả lại cho vợ chồng anh T2, chị N2 120.000.000đ; bà T1 có trách nhiệm trả lại cho chị N2 anh T2 199.000.000đ;
Anh T2, chị N2 và anh Đ được giành quyền dân sự đối với việc vay nợ - thế chấp tài sản giữa hai bên về số tiền còn lại mà vợ chồng anh T2 chị N2 còn nợ anh Đ (là 1.030.000.000₫).
[6] Các tình tiết khác của vụ án:
- - Số tiền 919.999.999 đồng sau khi chiếm đoạt được của bị hại, Ngọc A yêu cầu M chuyển tiền vào tài khoản của mình để sử dụng vào mục đích cá nhân và chuyển đến các tài khoản khác số tiền lớn như sau:
Ngày 18/6/2024, M chuyển vào số tài khoản 226647783 tại ngân hàng V1 của Ngọc A số tiền 140.000.000 đồng; Ngọc A chuyển vào số tài khoản 8822429999 tại ngân hàng B của Lường Hữu H, sinh năm 1982, trú tại thôn B, xã H, tỉnh Thanh Hóa số tiền 120.000.000 đồng để trả nợ cho H.
Ngày 21/6/2024, M chuyển khoản theo yêu cầu của Ngọc A số tiền 700 triệu cho Thiều Mạnh T4; đến ngày 09/9/2024 T4 đã chuyển trả lại cho Ngọc A số tiền 700 triệu đồng; nhận được 700 triệu thì Ngọc A chuyển khoản cho anh Đ 200 triệu đồng; Chuyển cho bà Lưu Thị T1 (mẹ đẻ Ngọc A) 199.999.999 đồng. Số tiền còn lại Ngọc A yêu cầu M chuyển đến các tài khoản khác nhau để chi tiêu cá nhân.
- - Đối với Lưu Thị Ngọc M: tài liệu có trong hồ sơ thể hiện M không được Ngọc A bàn bạc trao đổi về động cơ, mục đích nhận tiền, không tham gia trực tiếp vào quá trình trao đổi, hướng dẫn các bị hại, không biết số tiền chuyển vào tài khoản của M do bị cáo phạm tội mà có, không được hưởng lợi từ số tiền mà Ngọc A đã chiếm đoạt. Theo sao kê tài khoản Ngân hàng, số tiền nhận được từ 18/6/2024 đến 04/7/2025 M đã chuyển toàn bộ cho Ngọc A; đến ngày 13/8/2024, bị hại có đơn trình báo đến Cơ quan Công an; do M không biết việc làm trên của Ngọc A là phạm tội, vì vậy không có căn cứ xử lý đối với Lưu Thị Ngọc M.
- - Đối với Thiều Mạnh T4: T4 có quen biết Ngọc A thời điểm đang làm cộng tác viên của Ngân hàng O; ngày 21/6/2024 do cần tiền để giải quyết việc cá nhân nên T4 hỏi Ngọc A để vay tiền; Ngọc A bảo M chuyển khoản cho Thiều Mạnh Tùng 700 triệu; Thiều Mạnh T4 không biết nguồn gốc số tiền trên; đồng thời khi Ngọc A nhờ T4 xin việc cho Ngọc A vào làm nhân viên Ngân hàng và nói T4 giữ lại số tiền trên. Khi xử lý công việc cá nhân xong, không có khả năng xin việc cho Ngọc A thì T4 nhờ Nguyễn Văn M1, sinh năm 1989, trú tại phố T, phường H, tỉnh Thanh Hóa là nhân viên của Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh N3 đứng ra xin hộ, đồng thời T4 chuyển toàn bộ số tiền 700 triệu cho Nguyễn Văn M1 để xin việc cho Ngọc A. Tuy nhiên trong thời gian trên Ngân hàng nông nghiệp không có đợt thi tuyển dụng nên ngày 09/9/2024, M1 đã trả lại số tiền trên cho Thiều Mạnh T4, T4 chuyển khoản trả lại cho Ngọc A. Do đó, việc nhận tiền xin việc cho Ngọc A của T4, M1 không có hành vi gian dối, không có mục đích chiếm đoạt nên không có dấu hiệu của tội phạm.
- - Đối với Sử Phi Đ là người có quyền lợi liên quan đến vụ án: Đ có quen biết với Phạm Thị Ngọc A nên khi được Ngọc A giới thiệu có vợ chồng Lường Thị N1, Nguyễn Hữu T2 muốn vay số tiền 1.230.000.000đ nhằm mục đích đảo sổ Ngân hàng, thì S Phi Định đồng ý cho vợ chồng N1 - T2 vay tiền, việc vay mượn có lập hợp đồng và không có việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
- - Đối với anh Lường Hữu H và bà Lưu Thị T1 (mẹ đẻ Ngọc A): trước đó H là người cho Ngọc A vay 120 triệu đồng, sau khi chiếm đoạt được tiền của vợ chồng T2, N1; Ngọc A đã chuyển khoản trả lại cho H 120 triệu đồng; bà T1 khai báo Ngọc A vay tiền của bà để chi tiêu rất nhiều lần nên khi Ngọc A trả cho bà số tiền 199.999.999 đồng thì bà T1 sử dụng hết số tiền này để trả nợ, kinh doanh nên đã tiêu hết; bản thân anh H, bà T1 không biết về nguồn gốc số tiền này là do Ngọc A chiếm đoạt mà có nên không nộp lại số tiền này cho Cơ quan Điều tra;
- [7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Phạm Thị Ngọc A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
bị cáo Phạm Thị Ngọc A 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 18/7/2025).
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585 và 589 của Bộ luật dân sự:
- - Buộc bị cáo phải bồi thường cho vợ chồng chị Lường Thị N1, anh Nguyễn Hữu T2 số tiền 400.999.999đ (bốn trăm triệu, chín trăm chín mươi chín ngàn đồng)
- - Buộc anh Lường Hữu H phải trả lại cho vợ chồng chị Lường Thị N1, anh Nguyễn Hữu T2 số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng)
- - Buộc bà Lưu Thị T1 phải trả lại cho vợ chồng chị Lường Thị N1, anh Nguyễn Hữu T2 số tiền 199.000.00đ (một trăm chín mươi chín triệu đồng).
- - Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự cho anh Sử Phi Đ và vợ chồng chị Lường Thị N1, anh Nguyễn Hữu T2 đối với việc vợ chồng anh T2, chị N1 vay nợ anh Đ số tiền 1.030.000.000đ (một tỷ không trăm ba mươi triệu đồng) và anh Đ đang cầm giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 241840 do UBND thành phố S cấp ngày 05/01/2019 tại thửa số 238, tờ bản đồ số 35, diện tích 98m² tại khu phố H, phường S tỉnh Thanh Hóa đứng tên Nguyễn Hữu T2, Lường Thị N1.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Nếu các bên không thỏa thuận được thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Về án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Phạm Thị Ngọc A phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 20.450.000đ (hai mươi triệu, bốn trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự trong hình sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Phương Thanh |
Bản án số 234/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 234/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
