Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 230/2025/DS-PT

Ngày: 16/12/2025

V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Thật
Bà Trần Thị Dịu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa: Ông Bùi Hồng Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 16/12/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án dân sự thụ lý số 219/2025/TLPT-DS ngày 31/10/2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 235/2025/QĐ-PT ngày 04/11/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà La Vũ Thùy L, sinh năm: 1991;

Địa chỉ: 133/38/20 T, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đức P, sinh năm 1975; địa chỉ: 4 L, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 003084, quyển số 02/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/6/2023 tại Văn phòng C). Ông P có mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH K.

Địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà G, số A T, phường N, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Tuấn A, sinh năm 1979; Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Phạm Thị Kiều H, sinh năm 1984; địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số A phố L, phường H, Thành phố Hà Nội. (Theo Giấy ủy quyền ngày 03/6/2024). Bà H có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1987. Địa chỉ: 133/38/20 T, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (Ông T hiện đang chấp hành án tại Trại giam L2). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà La Vũ Thùy L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào khoảng 15 giờ ngày 14/12/2018, bà La Vũ Thùy L và ông Trần Ngọc T đến tòa nhà Lim Tower để tham dự hội thảo. Tại đây, ông bà nghe nhân viên Công ty TNHH K (gọi tắt là Công ty) giới thiệu về dự án A tọa lạc tại N có 400 căn hộ du lịch, 200 căn biệt thự du lịch do ông tỷ phú người Israel là chủ đầu tư, ông này còn được Việt Nam bổ nhiệm lãnh sự danh dự tại Israel ... và A1 là giao dịch tốt nhất ở Việt Nam. Với nội dung hấp dẫn nên nguyên đơn rất tin tưởng không chút nghi ngờ.

Do bị mê hoặc trước những thông tin sai lệch, không đúng mà nhân viên Công ty G, vợ chồng nguyên đơn đã ký 03 bản “xác nhận đặt chỗ lần lượt như sau: BCS-H-015938 ngày 14/12/2018; BCS-H-015945 ngày 14/12/2018; BCS-H-015942 ngày 14/12/2018. Tiếp theo, nhân viên Công ty đưa cho vợ chồng nguyên đơn ký nhiều bộ “Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ” nhưng chỉ có phía người tiêu dùng ký còn Công ty chưa ai ký tên và đóng đầu vào Hợp đồng, các thông tin khác còn để trống. Nhân viên nói rằng cứ ký cái gì chưa rõ sẽ giải thích sau, nhân viên nói sau khi ký thì 15 ngày sau sẽ giao lại.

Đến ngày 20/01/2019, Công ty giao 03 bản Hợp đồng theo đường bưu điện cho nguyên đơn kèm theo giấy ủy quyền ngày 25/11/2018 của ông Hemant P1 cho ông Lê Hữu B để ký kết hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ và nguyên đơn đã lần lượt chuyển tiền cho Công ty Đ Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ và Công ty cũng đã có xác nhận thanh toán cho nguyên đơn như sau:

  • Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-H-031762 ngày 14/12/2018, đã thanh toán số tiền 443.555.000 đồng;
  • Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-S-071472 ngày 14/12/2018 đã thanh toán 221.777.500 đồng;
  • Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-H-031902 ngày 14/12/2018 đã thanh toán 513.590.000 đồng

Sau khi ký các Hợp đồng, nguyên đơn xem xét thấy nội dung có những điều khoản không hợp lý vì vậy đã khởi kiện Công ty TNHH K yêu cầu Tòa án tuyên bố một số quy định trong 03 bản Hợp đồng đã ký là không có hiệu lực, vô hiệu. Cụ thể:

  1. Nội dung tại khoản 5.1 Điều 5 trang 11; khoản 10.2 Điều 5 trang 15 Hợp đồng là không có hiệu lực theo điểm a khoản 1 Điều 16 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 (Luật BVQLNTD). Công ty tự xác định số tiền đặt cọc thuộc về Công ty
  2. Nội dung tại Khoản 5.1 Điều 5 trang 11 của Hợp đồng là không có hiệu lực theo Điều 16 Luật BVQLNTD và khoản 3 Điều 405 Bộ luật dân sự.
  3. Nội dung tại khoản 5.5 Điều 5 trang 12 của Hợp đồng là không có hiệu lực và vô hiệu theo điểm a khoản 2 Điều 10, điểm a khoản 1 Điều 16 Luật BVQLNTD và khoản 3 Điều 405 Bộ luật dân sự về việc Công ty có quyền cấn trừ để bắt nợ thanh toán cho bên thứ ba.
  4. Nội dung tại Điều 9 trang 15 của Hợp đồng là không có hiệu lực theo điểm e khoản 1 Điều 16 Luật BVQLNTD.
  5. Nội dung tại Điều 9 trang 15 của Hợp đồng và các mục 1.9 trang 24, mục 1.12 trang 26, mục 4.3 trang 27 của Phụ lục là vi phạm theo điểm b khoản 1 Điều 16 Luật BVQLNTD và khoản 1 Điều 405 Bộ luật dân sự.
  6. Nội dung tại khoản 10.2 Điều 10 trang 16 và nội dung tại 10.4 Điều 10 trang 16 của Hợp đồng là không có hiệu lực theo Điều 16 Luật BVQLNTD và khoản 3 Điều 405 Bộ luật dân sự.
  7. Nội dung tại khoản 19.2 Điều 19 trang 19 của Hợp đồng là không có hiệu lực và vô hiệu điểm a và điểm i khoản 1 Điều 16 Luật BVQLNTD và khoản 3 Điều 405, Điều 370 Bộ luật dân sự về chuyển giao nghĩa vụ,
  8. Nội dung tại khoản 20.3 Điều 20 trang 20 của Hợp đồng và Mục 1 Phụ lục c trang 30 là không có hiệu lực và vô hiệu theo khoản 1 Điều 10 Luật BVQLNTD và khoản 1 Điều 405 về việc bắt người tiêu dùng phải thanh toán tiền đặt cọc ngay cả khi Hợp đồng chưa được Công ty ký kết.
  9. Nội dung tại điểm 1.2 mục 1 trang 23 phụ lục B là không có hiệu lực và vô hiệu theo Điều 10 và khoản 1 Điều 16 Luật BVQLNTD,
  10. Nội dung tại điểm 1.9 Mục 1 Phụ lục B trang 24 là không có hiệu lực và vô hiệu theo Điều 10 và điểm c khoản 1 Điều 16 Luật BVQLNTD và khoản 3 Điều 405 Bộ luật dân sự.
  11. Nội dung khoản 10.4 Điều 10 trang 16 Hợp đồng là không có hiệu lực và vô hiệu theo điểm a khoản 1 Điều 16 Luật BVQLNTD và Điều 238 Bộ luật dân sự
  12. Nội dung mục 2.5 Phụ lục B là không có hiệu lực theo điểm b, điểm g khoản 1 Điều 16 Luật BVQLNTD.

Đề nghị Tòa án quyết định trong hạn 30 ngày giữa hai bên cùng thỏa thuận thống nhất sửa đổi lại một số nội dung Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ cho phù hợp với quy định của pháp luật. Nếu không đồng ý thì đề nghị Tòa án tuyên bố chấm dứt thực hiện 03 Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ nêu trên và buộc Công ty TNHH K thanh toán cho nguyên đơn số tiền mà nguyên đơn đã thanh toán cho Công ty của 03 Hợp đồng là 1.178.922.500 đồng vì:

Ngày 20/3/2025 bà L1 Vũ Thùy L có đơn đề nghị Tòa án xem xét về yêu cầu khởi kiện trong thông báo thụ lý vụ án và đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể: Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc nếu các bên không thể thỏa thuận thống nhất việc sửa đổi nội dung thay thế thì các bên có quyền quyết định chấm dứt thực hiện đối với 03 hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ và Công ty TNHH K phải trả lại số tiền là 443.555.000 đồng + 221.777.500 đồng + 513.590.000 đồng = 1.178.922.500 đồng mà nguyên đơn đã thanh toán 03 Hợp đồng cho Công ty (BL338-339).

Như vậy, nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố 12 quy định trong 03 bản Hợp đồng là không có hiệu lực, vô hiệu và đề nghị Tòa án quyết định thời hạn 30 ngày để các bên cùng thỏa thuận lại các phần thay thế các quy định của 03 “Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ" đã ký giữa hai bên đối với những quy định không có hiệu lực, vô hiệu; cùng người tiêu dùng thỏa thuận giá dịch vụ lưu trú ghi trong hợp đồng cũng như những quy định vi phạm Luật BVQLNTD.

* Trong quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Công ty TNHH K được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh K cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư số 3211745957 chứng nhận lần đầu ngày 10/11/2020 (cấp đổi từ giấy chứng nhận đầu tư số [...] do Ủy ban nhân dân tỉnh K cấp lần đầu ngày 05/02/2013, chứng nhận thay đổi lần thứ ba và hiệu đính số Giấy chứng nhận đầu tư số 37122000419 ngày 27/01/2015) và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 4201550314 đăng ký lần đầu ngày 05/02/2013, đăng ký thay đổi lần thứ 10 ngày 04/12/2020 để đầu tư thực hiện dự án khu nghỉ dưỡng cao cấp có tên là “Alma” tại các lô đất số D7a2, TT4, X6 thuộc Khu D, huyện C, tỉnh Khánh Hòa và thực hiện các hoạt động kinh doanh khác phù hợp với pháp luật Việt Nam.

Công ty đã và đang triển khai mô hình chia sẻ quyền nghỉ dưỡng (Quyền sở hữu kỳ nghỉ) cho các khách hàng của Công ty. Theo đó, một người được sử dụng quyền nghỉ dưỡng hàng năm tại một địa điểm trong một khoảng thời gian nhất định (Tuần Nghỉ dưỡng). Để xác lập quyền này, khách hàng và Công ty P2 ký kết hợp đồng gọi là “Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ” trong đó sẽ ấn định thời gian và địa điểm nhất định khách hàng sẽ sử dụng quyền nghỉ dưỡng của mình. Khoản tiền mà khách nghỉ dưỡng đã trả để mua quyền nghỉ dưỡng là cơ sở để khách hàng hưởng quyền nghỉ dưỡng hàng năm, đồng thời hàng năm khách hàng nghỉ dưỡng còn nộp thêm một khoản phí duy trì quản lý cơ sở nghỉ dưỡng tùy thuộc vào hiện trạng hoạt động khu nghỉ dưỡng theo từng năm, thời gian sử dụng quyền nghỉ dưỡng được xác định phù hợp với thời gian hoạt động của dự án (Năm 2054). Dự án đã đi vào hoạt động ngày 29/12/2019.

Nguyên đơn là một trong số các khách hàng mà Công ty đã mời tham dự buổi giới thiệu về mô hình trên do Công ty tổ chức. Khi mời tham gia sự kiện, nhân viên Công ty đã nói rõ về nội dung của buổi sự kiện: thời gian, cách thức tham dự, quà tặng đi kèm... Sau khi được thông báo về thông tin sự kiện, khách hàng có quyền cân nhắc để quyết định tham gia hay không. Trường hợp này nguyên đơn đã đồng ý tham gia.

Công ty có ký kết hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ lần lượt là số PBRC-H-031762; PBRC-S-071472; PBRC-H-031902 và các phụ lục hợp đồng kèm theo với vợ chồng bà La Vũ Thùy L vào ngày 14/12/2018 và nguyên đơn đã lần lượt nộp cho Công ty số tiền là để thực hiện hợp đồng, cụ thể như sau:

  1. Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-1H-031762, nguyên đơn đồng ý mua quyền sở hữu kỳ nghỉ của Công ty: Căn hộ loại A tuần nghỉ dưỡng thứ 15 với tổng giá trị hợp đồng là 443.555.000 đồng. Theo đó, nguyên đơn đã được ghi nhận thanh toán cho Công ty số tiền nêu trên. Quá trình thực hiện hợp đồng, khách hàng cũng đã sử dụng quyền nghỉ dưỡng để đi nghỉ dưỡng vào các năm 2020 và năm 2021.
  2. Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-S-071472, nguyên đơn đồng ý mua quyền sở hữu kỳ nghỉ của Công ty: Căn hộ loại A tuần nghỉ dưỡng thứ 15 với tổng giá trị hợp đồng là 221.777.500 đồng. Theo đó, nguyên đơn đã được ghi nhận thanh toán cho Công ty số tiền nêu trên. Quá trình thực hiện hợp đồng, khách hàng cũng đã sử dụng quyền nghỉ dưỡng để đi nghỉ dưỡng vào các năm 2020 và năm 2021.
  3. Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-H-031902, nguyên đơn đồng ý mua quyền sở hữu kỳ nghỉ của Công ty: Căn hộ loại G tuần nghỉ dưỡng thứ 21 với tổng giá trị hợp đồng là 513.590.000 đồng. Theo đó, nguyên đơn đã được ghi nhận thanh toán cho Công ty số tiền nêu trên. Quá trình thực hiện hợp đồng, khách hàng cũng đã sử dụng quyền nghỉ dưỡng để đi nghỉ dưỡng vào các năm 2020 và 2021.

(Sau đây gọi là 03 Hợp đồng).

Công ty TNHH K không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì những yêu cầu của nguyên đơn không có cơ sở pháp lý.

* Trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc T trình bày:

Ngày 14/12/2018, ông cùng vợ là bà La Vũ Thùy L tham dự hội thảo do Công ty tổ chức và tại đây vợ chồng ông có cùng ký kết Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ với Công ty. Sau khi ký hợp đồng, vợ chồng ông thấy một số nội dung của hợp đồng không hợp lý, có dấu hiệu lừa đảo nên vợ chồng có liên hệ Công ty để đòi lại tiền nhưng không được. Nay vợ ông khởi kiện Công ty TNHH K thì ông hoàn toàn đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L và ủy quyền toàn bộ cho bà L quyết định, ông không khiếu nại gì về sau. Vì ông đang chấp hành án tại Trại giam nên ông xin Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông trong toàn bộ quá trình tố tụng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu chấm dứt thực hiện 03 Hợp đồng lần lượt Hợp đồng số PBRC-H-031762, Hợp đồng số PBRC-S-071472, Hợp đồng số PBRC-H-031902 ngày 14/12/2018 và yêu cầu Công ty TNHH K phải trả cho nguyên đơn số tiền 1.178.922.500 đồng (Một tỷ một trăm bảy mươi tám triệu chín trăm hai mươi nghìn năm trăm đồng)

2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bao gồm:

  • Yêu cầu tuyên bố 12 nội dung quy định tại 03 bản Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ lần lượt Hợp đồng số PBRC-H-031762, Hợp đồng số PBRC-S-071472, Hợp đồng số PBRC-H-031902 là không có hiệu lực, vô hiệu;
  • Đề nghị Tòa án quyết định thời hạn 30 ngày để các bên cùng thỏa thuận lại các phần thay thế các quy định của 03 bản Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ lần lượt Hợp đồng số PBRC-H-031762, Hợp đồng số PBRC-S-071472, Hợp đồng số PBRC-H-031902.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quy định chung, quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 16/7/2025, nguyên đơn La Vũ Thùy L kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm với nội dung không đồng ý với kết quả xét xử sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa).

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên kháng cáo.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự về nội dung và thời hạn kháng cáo nên có cơ sở để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các bên đương sự và kháng cáo nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Ngày 16/6/2025, Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2025/DS-ST, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt khi tuyên án và đã nhận được Bản án nêu trên vào ngày 09/7/2025. Ngày 16/7/2025, nguyên đơn La Vũ Thùy L có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn luật định nên nội dung kháng cáo của bà L được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn tham gia phiên tòa đều không nộp thêm tài liệu chứng cứ so với giai đoạn xét xử sơ thẩm.

[3] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn:

[3.1] Đối với yêu cầu khởi kiện về việc tuyên bố 12 quy định trong 03 Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ đã ký là không có hiệu lực, vô hiệu.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Công ty TNHH K được Ủy ban nhân dân tỉnh K cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ngày 05/02/2013 và đăng ký thay đổi lần 13 ngày 07/11/2024; Giấy chứng nhận đầu tư số [...] ngày 05/02/2013 và đã thay đổi đăng ký lần thứ 3 ngày 27/01/2015 để đầu tư, thực hiện dự án Khu nghỉ dưỡng C tại các lô đất 1722, TT4, X6 thuộc Khu D, C, Khánh Hòa. Quá trình đầu tư và thực hiện dự án, Công ty đã tổ chức các buổi hội thảo để giới thiệu về mô hình nghỉ dưỡng tại một số địa phương, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 14/12/2018, bà La Vũ Thùy L, ông Trần Ngọc T và Công ty TNHH K có ký kết các Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-H-031762, số PBRC-S-071472, số PBRC-H-031902 và các phụ lục kèm theo với nội dung: Bà L và ông T mua 03 tuần nghỉ dưỡng trong mỗi năm tính từ năm bắt đầu đến khi hết thời hạn dự án đối với 02 căn hộ nghỉ dưỡng loại A và 01 căn hộ nghỉ dưỡng loại G. Khoản thanh toán phải trả khi Công ty xác định ngày khai trương chính thức của từng Hợp đồng lần lượt là: 443.555.000 đồng, 221.777.500 đồng và 513.590.000 đồng. Tiền đặt cọc phải trả khi chấp nhận là 30% của Hợp đồng lần lượt là 354.844.000 đồng, 177.422.000 đồng và 410.872.000 đồng. Ngoài ra, Hợp đồng còn quy định về quyền nghỉ dưỡng, quyền và nghĩa vụ của Công ty và của khách nghỉ dưỡng, về chuyển nhượng và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ Hợp đồng. Tại đây, vợ chồng nguyên đơn đã đồng ý giao kết và thực hiện nghĩa vụ thanh toán 03 Hợp đồng; đồng thời thực hiện những lần thanh toán tiếp theo từ sau ngày 14/12/2018 và được Công ty xuất hóa đơn đầy đủ.

Như vậy, khi ký kết 03 hợp đồng thì vợ chồng nguyên đơn không bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, các bên tham gia giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên hợp đồng có hiệu lực thực hiện đối với các bên và là căn cứ để giải quyết khi phát sinh tranh chấp. Như vậy, các Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ trên và các phụ lục kèm theo được giao kết giữa vợ chồng bà La Vũ Thùy L, ông Trần Ngọc T với Công ty TNHH K phù hợp với quy định, không thuộc một trong các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại khoản 2 Điều 108, Điều 122 đến Điều 129, Điều 328 và Điều 405 Bộ luật dân sự nên phát sinh hiệu lực.

Nguyên đơn cho rằng 12 quy định trong mỗi hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ đã ký là không có hiệu lực, vô hiệu theo quy định theo Điều 130 Bộ luật dân sự và Điều 10, 14, 16 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010. Hội đồng xét xử nhận thấy: Các Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ nêu trên là hợp đồng theo mẫu do Công ty TNHH K đưa ra nên việc dành thời gian để nghiên cứu kỹ nội dung của Hợp đồng trước khi ký kết là quyền và trách nhiệm của khách hàng và tại thời điểm ký kết hợp đồng, vợ chồng bà L có quyền yêu cầu Công ty TNHH K giải thích những từ ngữ, nội dung mà nguyên đơn cho là khó hiểu, gây nhầm lẫn để đưa ra quyết định ký hay không ký hợp đồng; nguyên đơn không có bất kỳ ý kiến, phản hồi hay khiếu nại đối với Công ty và các nội dung của hợp đồng và sau khi ký kết hợp đồng thì vợ chồng bà L cũng đã sử dụng quyền nghỉ dưỡng của mình để nghỉ dưỡng vào các năm 2020, 2021. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ về việc Công ty TNHH K vi phạm nghĩa vụ và nguyên đơn cũng thừa nhận rằng Công ty không có bất cứ hành vi vi phạm nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Như vậy, việc nguyên đơn cho rằng 12 nội dung trong mỗi hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ đã ký là không có hiệu lực, vô hiệu theo quy định tại Điều 10, 14 và 16 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 là không có cơ sở để chấp nhận.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án 05 tài liệu thể hiện ý kiến của Cơ quan nhà nước đối với Công ty TNHH K về những vi phạm như cung cấp thông tin không đầy đủ, không chính xác cho người tiêu dùng theo quy định, sử dụng hợp đồng theo mẫu có cỡ chữ nhỏ hơn quy định. Hội đồng xét xử nhận thấy: Các vi phạm trên được Công ty TNHH K thừa nhận và đã có Kết luận Thanh tra số 12/KL-CT ngày 29/12/2022 và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 300/QĐ-XPVPHC ngày 28/12/2022 của Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng đối với Công ty có nêu ra những vi phạm chung của Công ty nhưng không có nội dung xác định những vi phạm cụ thể đối với 12 nội dung của 03 Hợp đồng và đây là trách nhiệm của Công ty đối với Cơ quan nhà nước.

[4.2] Đối với yêu cầu về việc đề nghị Hội đồng xét xử ấn định thời hạn 30 ngày để các bên cùng thỏa thuận lại các phần thay thế các quy định của 03 “Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ” đã ký giữa hai bên đối với những quy định không có hiệu lực, vô hiệu và cùng người tiêu dùng thỏa thuận giá dịch vụ lưu trú ghi trong hợp đồng cũng như những quy định vi phạm Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, hai bên đã có nhiều lần để trao đổi với nhau nhưng đến nay cả 2 vẫn không đạt được thỏa thuận chung và tại phiên tòa, bị đơn không đồng ý thỏa thuận lại các phần thay thế các quy định của 03 Hợp đồng như nguyên đơn yêu cầu. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy kháng cáo của bà La Vũ Thùy L về việc yêu cầu hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa) là không có cơ sở để chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà La Vũ Thùy L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà La Vũ Thùy L.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa).

2. Về án phí: Nguyên đơn bà La Vũ Thùy L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001028 ngày 25/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa (Bà L đã nộp đủ).

3. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND khu vực 1 – Khánh Hòa;
  • - TAND khu vực 1 – Khánh Hòa;
  • - THADS tỉnh Khánh Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 230/2025/DS-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 230/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger