|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày 17 tháng 12 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Đương;
2. Bà Nguyễn Thị Tâm.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Cường, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Phạm Mạnh Hùng, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 05/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 10/11/2025, đối với bị cáo:
ĐỖ MẠNH T - sinh ngày 02/01/2004, tại xã T, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Đình T1, sinh năm 1967 và bà Tống Thị B, sinh năm 1971; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ, có mặt.
- Người bị hại: Anh Hà Anh C, sinh năm 2004; địa chỉ: Khu Đ, xã Y, tỉnh Phú Thọ (0964.899.825), vắng mặt.
- Người liên quan:
1. Anh Nguyễn Hoài N, sinh năm 2008, địa chỉ: Khu T, xã Y, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị C1, địa chỉ, Khu T, xã Y, tỉnh Phú Thọ là mẹ đẻ của anh Nguyễn Hoàn N1, vắng mặt.
2. Anh Đỗ Văn C2, sinh năm 1989, địa chỉ: khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Đỗ Mạnh D, sinh năm 2006, địa chỉ: Khu B, xã Y, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
- Phùng Nguyễn H, sinh năm 2006, địa chỉ: khu T, xã Y, tỉnh Phú Thọ - vắng mặt.
- Anh Nguyễn Bảo N2, sinh năm 2009, địa chỉ: Khu H, xã Y, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
- Anh Hoàng Đình N3, sinh năm 2002, địa chỉ: khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ, ngày 30/5/2025, Đỗ Mạnh T cùng với Hoàng Đình N3, sinh năm 2002, ở cùng khu rủ nhau đi uống nước. N3 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88H8-0195 chở T đi từ nhà ở của T đến quán C3 ở khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ. Khi đi đến trước cửa quán C3 thì gặp cháu Nguyễn Bảo N2, sinh năm 2009, ở khu H, xã Y, tỉnh Phú Thọ điều khiển xe đạp điện chở phía sau Hoàng Trung K, sinh năm 2007, ở khu D, xã T, tỉnh Phú Thọ đi ngược chiều. T thấy cháu N2 điều khiển xe đi ngược chiều lấn sang phần đường của T đang dừng và nghe thấy có người chửi mình nên T bảo N3 điều khiển xe mô tô đuổi theo cháu N2 và cháu K.
Khi N3 điều khiển xe mô tô đuổi theo đến quán sửa xe máy “L" thuộc khu Q, xã T, tỉnh Phú Thọ thì T nhìn thấy cháu N2, K và anh Phùng Nguyễn H, sinh năm 2006, ở khu T, xã Y đang đứng cùng ở đây, nên T và N3 điều khiển xe mô tô quay lại. Trên đường đi T gặp cháu Nguyễn Hoài N, sinh ngày 30/10/2008, ở khu T, xã Y, tỉnh Phú Thọ đang dắt xe đạp điện (xe đạp điện của cháu N bị hết điện), T nghĩ cháu Nguyễn Hoài N là bạn đi cùng cháu K, cháu Nguyễn Bảo N2, do bực tức về chuyện nghe tháy cháu Nguyễn Bảo N2 chửi mình lúc trước nên T xuống xe đi lại chỗ cháu Nguyễn Hoài N, hỏi có đi cùng K và N không và dùng tay trái tát 02 cái vào mặt cháu Nguyễn Hoài N. Sau đó, T lên xe mô tô để N3 chở về quán C3 ở khu Đ, xã T đề uống nước.
Nguyễn Hoài N, sau khi bị T tát 02 cái vào mặt tiếp tục dắt xe đến quan sửa xe máy “Lâm decal” thì gặp Hà Anh C, sinh năm 2004, ở khu T, xã Y; Đỗ Mạnh D, sinh năm 2006, ở khu B, xã Y, Phùng Nguyễn H, sinh năm 2006, ở khu T, xã Y và Nguyễn Bảo N2, thì Nguyễn Hoài N kể lại chuyện bị T đánh cho mọi người ở đây nghe. C nói với mọi người đi cùng mình đến gặp T để nói chuyện. Sau đó tất cả đi đến quán C3. Khi đến nơi, C thấy T và N3 đang ở trước cửa quán. Chí đi đến nói chuyện với T nên giữa C và T đã có lời qua tiếng lại, chửi, thách thức nhau. C dùng tay trái tát 01 cái vào mặt của T. Bị C đánh, T đã nhặt 01 khúc gỗ màu nâu đỏ, hình hộp chữ nhật, kích thước dài khoảng 15cm x 9cm x 8cm ở lề đường nhựa, cầm ở tay phải đập trúng khuỷu tay phải của C làm khúc gỗ rơi xuống đất, cả hai tiếp tục ôm và vật lộn nhau ngã xuống đường. Lúc này, Hoàng Anh N4 đi cùng T đến căn ngăn kéo T và Chí ra. Sau khi được N4 can ngăn giữa anh C và T vẫn có lời qua tiếng lại, thách thức nhau. T đã gọi điện cho anh họ của mình là Đỗ Văn C2, sinh năm 1989, ở khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ nói với C2: “Anh ơi chúng nó đang vây đánh em ở quán nước bà T1”. C2 trả lời: “Ừ, đợi tỷ anh ra”. Khoảng 05 phút sau thì C2 đi đến, khi đi C2 mang theo 01 con dao (có đặc điểm dài khoảng 30cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 20cm, có một lưỡi sắc, đầu dao nhọn, chuôi dao dài khoảng 10cm) được để trong 01 bao đựng dao bằng gỗ, đeo ở thắt lưng. Khi C2 đến thấy giữa T và C đang cãi chửi và thách thức nhau, nên C2 đã rút dao ở mang theo ra và giơ dao lên hô: “Chúng mày về hết không được đánh nhau nữa”. Thấy vậy, Nguyễn Bảo N2, Phùng Nguyễn H, Đỗ Mạnh D đã lên xe đi về nhà, còn lại Đỗ Mạnh T, Nguyễn Hoài N, Hoàng Đình N3 và Hà Anh C ở lại. Sau khi dùng dao dọa xong thì Chung đúc dao vào bao đeo ở thắt lưng trái. Lúc này T đứng trước cửa quán C3, Chí đứng cách Thủy khoảng 3m giáp với mép đường nhựa. Giữa T và C tiếp tục cãi chửi, thách thức nhau, sau đó cả hai lao vào ôm, dùng tay đánh đấm nhau. C dùng tay phải kẹp cổ vật T ngã nằm úp trên nền đường nhựa. T dùng tay phải đưa ra nắm lấy cổ áo của C và kéo C xuống thì C ngã về phía trước. T vùng dậy, nhìn thấy C2 đang đứng tại mép đường trên thắt lưng đeo 01 con dao. T liền chạy lại chỗ C2 đang đứng vòng ra phía sau người C2 và dùng tay phải rút lấy con dao của C2 đang để trong bao đựng dao đeo trên thắt lưng, rồi chạy lại vị trí C đang đứng. Lúc này, C2 bị lấy mất dao đã hô lên: “Không đánh nhau nữa”, nhưng T vẫn chạy đến đứng đối diện và cách C khoảng 01 mét và nói: “Bây giờ mày thích như nào?”. C không nói gì dùng tay trái ấn đầu T xuống, tay trái của Thủy cầm vào vạt áo của C, khi T nghếch đầu lên thì bị C dùng tay phải đấm 02 phát trúng vào vùng mắt trái của T. Bị đấm vào mắt nên T bị lùi lại dùng tay phải cầm dao đâm 02 nhát về phía Chí thì trúng vào vùng ngực và phần bụng phía dưới bên phải của C, bị đâm C bỏ chạy. C2 và N3 vào can ngăn T thì T không đuổi theo C mà vứt dao xuống lề đường bên trái theo hướng từ xã T đi xã M rồi đi về nhà.
Đối với anh Hà Anh C, sau khi bị T gây thương tích thì được C2, N3 đưa đến Trung tâm y tế khu vực Y và chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh P để điều trị. Hậu quả: anh Hà A Chí bị 01 vết thương ở vùng bụng bên phải kích thước 3cm, lộ gân cơ, không thấu bụng, 01 vết thương vùng mạn sườn trái kích thước 3cm lộ gân cơ không thấu bụng; 01 vết thương ở vùng cẳng tay trái bờ sắc, gọn kích thước 2cm x 0,5cm; bầm tím mắt trái. Đối với Đỗ Mạnh T bị bầm tím vùng mắt trái kích thước 1cm x 2cm, đuôi mắt trái có vết sây sát da kích thước 0,5cm x 0,7cm, đầu gối trái có vết sây sát da kích thước 8cm x 10cm, đầu gối phải có vết sây sát da kích thước 3cm x 4cm. Đối với thương tích của T, T không đi điều trị tại cơ sở y tế nào. Quá trình điều tra, T trình bày vết thương bầm tím vùng mắt trái là do bị Hà Anh C dùng tay đấm. Còn vết thương tại đuôi mắt trái, đầu gối phải và đầu gối trái là do quá trình vật lộn, giằng co tự bị ngã trên mặt đường, T không yêu cầu đề nghị gì về thương tích của mình. Đối với thương tích của Hà Anh C, ngày 01/6/2025, Hà A Chí có đơn đề nghị giám định thương tích và đề nghị khởi tố điều tra, giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P ra quyết định trưng cầu giám định số A743 ngày 01/6/2025 để trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V (cũ) giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hà Anh C. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 152 ngày 01/6/2025 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y Sở y tế tỉnh V đã giám định và kết luận:
- + Vết thương sát bờ dưới sương ức trái, khoang liền sườn 5-6 cung trước bên trái kích thước nhỏ, xếp: 01%.
- + Vết thương cách rốn 3cm sang phải thành bụng trước kích thước nhỏ, xếp: 01%.
- + Vết thương 1/3 trên mặt sau trong cẳng tay trái kích thước nhỏ, xếp: 01%.
- + Hiện tại vết bầm tím quầng mắt trái và các tổn thương trên chưa ổn định, khi nào điều trị ổn định giám định bổ sung sau.
Cơ chế hình thành các vết thương: Vết bầm tím quầng mắt trái có thể do vật tày gây nên. Còn lại 03 vết thương vùng ngực, bụng và tay có thể do vật sắc nhon gây nên.
Kết Luận: Căn cứ Thông tư số 22 ngày 28/8/2019 của Bộ Y xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hà A Chí tại thời điểm giám định là 03%.
Đối với vết bầm tím quầng mắt trái và khi các thương tích của anh Hà A Chí được điều trị ổn định, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P ra quyết định trưng cầu giám định số C170 ngày 16/7/2025 để trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V giám định bổ sung đối với thương tích của anh Hà A Chí. Tuy nhiên ngày 17/7/2025, anh C đã có đơn kiên quyết từ chối giám định bổ sung thương tích.
Về vật chứng của vụ án:
- - Thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường gồm: 01 khúc gỗ, có đặc điểm hình chữ nhật, màu nâu, kích thước 15cm x 9cm x 8,5cm là đồ vật T sử dụng để đánh C.
- - Đối với 01 con dao (dạng dao mèo) dài khoảng 30cm, lưỡi dao dài khoảng 20cm, chuôi dao dài khoảng 10cm, có 01 lưỡi sắc màu trắng, đầu dao nhọn, chuôi dao bằng gỗ màu vàng mà Đỗ Mạnh T khai sử dụng để gây thương tích cho Hà A Chí vào ngày 30/05/2025 tại khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ lời khai của T, sau khi dùng để gây thương tích cho anh C, T đã vứt con dao xuống lề đường bên trái theo hướng từ xã T đi xã M gần hiện trường. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, truy tìm tại hiện trường, xung quanh hiện trường và truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự:
- - Đối với anh Hà A Chí quá trình điều tra đã yêu cầu Đỗ Mạnh T bồi thường số tiền 200.000.000đồng, trong đó: tiền viện phí và điều trị: 25.000.000đồng; Tiền công lao động trong thời gian điều trị: 18.000.000đồng; tiền bồi thường tổn thất về sức khỏe, tinh thần: 157.000.000đồng. Giữa T và anh C chưa thỏa thuận được về việc bồi thường dân sự. T chưa bồi thường bất kỳ khoản tiền ghì cho anh C. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử anh C có quan điểm yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản cụ thể: Chi phí cấp cứu, điều trị tại Trung tâm y tế huyện Y ngày 31/5/2025 kèm theo hai hóa đơn là 407.000đồng và 839.000đồng; Chi phí điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P ngày 09/6/2025 kèm theo 04 hóa đơn thuốc là 427.000đồng; 3.263.0000đồng; 746.000đồng; 970.000đồng; Chi phí tại Trung tâm y tế huyện Y ngày 10/6/2025 kèm hóa đơn 1.055.000đồng, ngày 11/6/2025 kèm hòa đơn 100.000đồng; Thu nhập bị mất 10 ngày năm viện x 300.000đồng = 3.000.000đồng; Thu nhập bị mất người đi chăm sóc là 350.000đồng x 10 ngày = 3.500.000đồng; T2 xe đi và về từ bệnh viện T3 x 700.000đồng = 1.400.000đồng, tổng cộng là 15.705.000đồng; Còn tiền tổn thất tinh thần anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng của vụ án, lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số: 04/CT-VKSYL-HS ngày 31/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ đã quyết định truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 134, điểm i,s khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”, Xử phạt bị cáo 07 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 584, 585, 590 BLDS buộc bị cáo Đỗ Mạnh T phải bồi thường cho anh Hà A Chí tổng số tiền từ 26.037.800đ đến 29.487.800₫ (làm tròn số), trong đó: Chi phí điều trị là 6.837.864đ; Thu nhập thực tế bị mất của người bị hại 2.000.000đ; thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc là 2.000.000đ; chi phí thuê xe đưa đi cấp cứu 02 lượt đi và về tổng cộng: 1.400.000đ; Bồi thường tổn thất về tinh thần: 13.800.000₫ đến 17.250.000₫.
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy 01 khúc gỗ, có đặc điểm hình chữ nhật, màu nâu, kích thước 15cm x 9cm x 8,5cm,
- - Về án phí: Buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu, không có ý kiến gì về quyết định truy tố và không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để có cơ hội sửa chữa tội lỗi của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát khu vực 6 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về những căn cứ xác định có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với hiện trường xảy ra vụ án, kết luận giám định, lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 30/5/2025, tại trước cửa quán C3 ở khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ, Đỗ Mạnh T do có mâu thuẫn vì cho rằng cháu Nguyễn Bảo N2 đi lấn đường và chửi mình, nên khi anh Hà A Chí, đến gặp để hỏi nguyên nhân mâu thuẫn giữa T và cháu N2. Đỗ Mạnh T đã có hành vi dùng 01 con dao (dài khoảng 30cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, có một lưỡi sắc, đầu dao nhọn, chuôi dao dài 10cm) là hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho anh Hà Anh C, sinh năm 2004, ở khu T, xã Y, tỉnh Phú Thọ. Hậu quả anh Hà A Chí bị 01 vết thương ở vùng bụng bên phải kích thước 3cm, 01 vết thương ở vùng mạn sườn trái kích thước 3cm; 01 vết thương ở vùng cẳng tay trái kích thước 2cm x 0,5cm. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 03 %. Hành vi của Đỗ Mạnh T đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 134 Bộ luật hình sự. Hành vi này đã xâm phạm đền S của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật .
Tại Điều 134 Bộ luật hình sự quy định: Tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a, D1 ...., hung khí nguy hiểm, ...;
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của con người được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương và bất bình trong quần chúng nhân dân, nên cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa tội phạm; bị cáo nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp.
[4].Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35 ngày 15/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lâp, tỉnh Phú Thọ (cũ) đã xét xử và phạt Đỗ Mạnh T 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ngày 25/7/2021 bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích. Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp it nghiêm trọng, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Sau khi xem xét, đánh giá toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử xét căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo ngoài lần phạm tội này bị cáo đã có 01 nhân thân là Bản án số 35 ngày 15/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ (cũ) xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tuy bị cáo đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy làm bài học cho bản thân, sau khi chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ một thời gian lại tiếp tục phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có thiện chí bồi thường thiệt hại cho bị hại một khoản chi phí nào. Do vây, cần phải có một mức án cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giảm dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5].Về xử lý vật chứng: 01 khúc gỗ, có đặc điểm hình chữ nhật, màu nâu, kích thước 15cm x 9cm x 8,5cm, liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Đối với yêu cầu của bị hại yêu cầu bị cáo bồi tổng số tiền chi phí điều trị là 15.705.000đồng. Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận: số tiền chi phí cấp cứu và điều trị theo biên lại thu của Trung tâm y tế K tổng cộng là 2.400.869 đồng, trong đó: phiếu xuất thuốc ngày 31/5/2025 trị giá 407.500đồng, Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 31/5/2025 trị giá 839.600đồng; Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 10/06/2025 số tiền 100.000đồng; Hóa đơn trị giá gia tăng ngày 11/6/2025 số tiền 1.053.769đồng;
Đối với chi phí tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P chỉ chấp nhận số tiền thực tế người bệnh phải trả cho chí điều trị đã được tính trong Bảng kê chi phí điều trị nội trú do B1 viện đa khoa tỉnh Phú Thọ cung cấp tổng số tiền 4.436.995đồng, các Hóa đơn chứng từ của Bệnh viện đa khoa tỉnh P bị hại nộp nằm trong khoản chi phí điều trị nội trú đã thanh toán;
Đối với yêu cầu bồi thường chi phí thuê ô tô đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ 02 lượt đi và về tổng cộng: 1.400.000₫ tuy không có chứng từ nhưng đây là chi phí hợp lý nên được chấp nhận;
Đối với yêu cầu bồi thường chi phí mất thu nhập của bị hại là 300.000đồng/ngày và yêu cầu bồi thường công 01 người chăm sóc bị hại là 350.000đồng/ngày trong thời gian điều trị. Căn cứ quy định về mức lương tối thiểu vùng ở xã T, tỉnh Phú Thọ là 3.450.000đồng/tháng; kết quả xác minh thu nhập tại địa phương trung bình là 57.120.000đồng/năm; Thời gian bị hại phải điều trị tại bệnh viện từ ngày 31/5/2025 đến ngày 09/6/2025 (10 ngày). Do vậy, hội đồng xét xử chỉ chấp nhận ngày công mất thu nhập của bị hại là 10 ngày x 200.000đồng/ngày = 2.000.000đồng và công mất thu nhập của người chăm sóc là 10 ngày x 200.000đồng/ngày = 2.000.000đồng.
Còn đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần bị hại để nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 “không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”, xét thấy mức độ thương tích của bị hại là 03%, hiện nay thương tích đã ổn định nên chấp nhận bồi thường bằng 05 lần mức tháng lương tối thiểu vùng: 05 x 3.450.000đ = 17.250.000đồng (thời điểm xét xử lương tối thiếu vùng IV là 3.450.000đồng) là phù hợp.
Như vậy, tổng số tiền bồi thường bị cáo Đỗ Mạnh T phải bồi thường cho anh Hà A Chí là: 2.400.869 đồng + 4.436.995đồng + 1.400.000 đồng + 2.000.000đồng + 2.000.000đồng + 17.250.000đồng = 29.487.800 đồng (làm tròn).
[8]. Về các vấn đề khác:
- - Về thương tích của Đỗ Mạnh T chỉ bị bầm tím ở mắt trái, không đi điều trị tại cơ sở y tế và sau đó không để lại thương tích gì. Đỗ Mạnh T không yêu cầu, đề nghị bồi thường gì, nên HĐXX không xem xét.
- - Trong vụ án này, Đỗ Mạnh T có hành vi dùng tay tát cháu Nguyễn Hoài N. Quá trình điều tra xác định, cháu N không để lại thương tích gì và cũng không có yêu cầu, đề nghị gì. Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an tỉnh P ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Đỗ Mạnh T là phù hợp.
- - Đối với Đỗ Văn C2, khi Đỗ Mạnh T gọi đến có mang theo 01 con dao (có đặc điểm dài khoảng 30cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, có một lưỡi sắc, đầu dao nhọn, chuôi dao dài 10cm) để trong 01 bao đựng dao bằng gỗ. Quá trình điều tra đã chứng minh, mục đích của C2 mang dao để nhằm dọa để T, C và nhóm thanh niên không tụ tập, đánh nhau nữa. Thực tế khi sự việc xảy ra C2 không sử dụng con dao này để đánh gây thương tích cho ai, không cổ vũ, tiếp sức cho T mà bản thân C2 là người can ngăn T và C không đánh nhau, đưa Hà Anh C đi cấp cứu. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với Đỗ Văn C2 là phù hợp.
- - Đối với 01 con dao (dạng dao mèo) dài khoảng 30cm, lưỡi dao dài khoảng 20cm, chuôi dao dài khoảng 10cm, có 01 lưỡi sắc màu trắng, đầu dao nhọn, chuôi dao bằng gỗ màu vàng mà Đỗ Mạnh T khai sử dụng để gây thương tích cho anh C, T đã vứt con dao xuống lề đường bên trái theo hướng từ xã T đi xã M gần hiện trường. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, truy tìm tại hiện trường, xung quanh hiện trường và truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được, nên không đề cập xử lý là phù hợp.
[9].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ về điều luật áp dụng, khung hình phạt, mức hình phạt, việc xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và án phí là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 134; điểm i, s khoản 1, Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Mạnh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 589, Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự và Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh T 07 (B2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Buộc bị cáo Đỗ Mạnh T phải bồi thường cho anh Hà A Chí số tiền 29.487.800₫ (Hai mươi chín triệu bốn trăm tám mươi bảy nghìn tám trăm đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Tịch thu để tiêu hủy 01 khúc gỗ, có đặc điểm hình chữ nhật, màu nâu, kích thước 15cm x 9cm x 8,5cm,
(Theo Biên bản giao vật chứng đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Phú Thọ ngày 06/11/2023).
Buộc bị cáo Đỗ Mạnh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.474.300đ (Một triệu bốn trăm bảy mươi từ nghìn ba trăm đồng) án phí dân sự trong án hình sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm, người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Ngọc Dũng |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ về cố ý gây thương tích (criminal first instance)
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Criminal First Instance)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Mạnh Thủy - Cố ý gây thương tích
