|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày 30-9-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyến
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Đôi
Bà Khúc Thị Minh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phúc Bình - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Hải Phòng và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2025/TLST- HS ngày 11 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Bùi Văn P, sinh năm 1997, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K (nay là xã K, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Q, sinh năm 1970 và bà Đồng Thị D, sinh năm 1970; có vợ là Đồng Thị Mai H, sinh năm 1998 và 01 con sinh năm 2018; tiền án: Có 02 tiền án là Bản án số 59/2020/HSST ngày 08 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản” và Bản án số 05/2021/HSST ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xử phạt 51 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án buộc bị cáo phải chấp hành là 66 tháng tù; tiền sự, nhân thân: Không; bị bắt tạm giam ngày 06 tháng 6 năm 2025; có mặt.
- Bị hại: Anh Trần Tuấn A, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường N, thành phố Hải Phòng, vắng mặt,
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn N, xã K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Trần Thị T1, vắng mặt và anh Vũ Văn T2, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 31/5/2025, Bùi Văn P đi xe ôm đến nhà nghỉ T3 thuộc tổ dân phố T, phường B, quận Đ (nay là tổ dân phố T, phường N), thành phố Hải Phòng để thuê phòng nghỉ. Trong thời gian thuê phòng, P phát hiện tại khu vực lối ra bãi đất trống bên cạnh nhà nghỉ có 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng, biển kiểm soát 16N6-4895, cắm sẵn chìa khóa nên P nảy sinh ý định trộm cắp. Hồi 15 giờ 38 phút cùng ngày, P quan sát không thấy ai trông coi nên đã dắt xe mô tô ra khỏi cổng nhà nghỉ. Sau khi lấy được xe, P tháo biển kiểm soát, gương chiếu hậu bên trái của xe cho vào trong cốp xe rồi gọi điện cho bạn là Vũ Văn T2 để nhờ thuê hộ phòng nghỉ tại nhà nghỉ H1 ở khu vực D, phường Đ. Đến khoảng 01 giờ ngày 02/6/2025, P điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 16N6-4895 quay trở lại nhà nghỉ T3, mục đích để tiếp tục trộm cắp tài sản. P dựng xe ở ngoài ngõ rồi đi bộ vào trong nhà nghỉ. Khi P đột nhập vào trong nhà thì gây ra tiếng động. Gia đình anh Tuấn A phát hiện Phú ẩn dưới gầm bàn ăn trong phòng bếp. Sau đó P bị mọi người bắt quả tang và đưa đến Công an phường B (nay là Công an phường N) để giải quyết.
Kết luận định giá tài sản số 06 ngày 03/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Đ kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius sơn màu trắng Biển kiểm soát 16N6-4895 có giá trị là 3.750.000 đồng”.
Tại Phiếu trả lời xác minh xe ngày 28/7/2025 của Phòng C- Công an thành phố H, xác định xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius sơn màu trắng Biển kiểm soát 16N6-4895, đăng ký lần đầu ngày 26/7/2008, chủ xe là anh Nguyễn Văn T. Anh T đã bán xe này cho anh Trần Tuấn A được khoảng 10 năm nay nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền theo quy định của pháp luật.
Tại Cơ quan điều tra Bùi Văn P đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về vật chứng của vụ án: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius Biển kiểm soát 16N6-4895, 01 cờ lê, đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần Tuấn A.
Hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Hải Phòng đang quản lý tài sản thu giữ của P: 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 áo sơ mi dài tay màu đen, 01 quần đùi bằng vải màu xanh tím than, 01 quần đùi bằng vải màu xanh tím than có chữ Adidas, 01 đôi dép màu đen kẻ sọc trắng đỏ.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Tuấn A1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Hành vi đến nhà nghỉ T3, vào ngày 02/6/2025, với mục đích để trộm cắp tài sản nhưng chưa trộm cắp được gì thì bị phát hiện và hành vi sử dụng ma túy vào ngày 01/6/2025 của P đã bị Cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSKV6 ngày 10/9/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Hải Phòng đã truy tố Bùi Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ nội dung, diễn biến quá trình thực hiện hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, đồng thời tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Hải Phòng tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị HĐXX tuyên bố Bùi Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù, đề nghị không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về phần dân sự, anh Trần Tuấn A không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét. Về xử lý vật chứng, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai, 01 áo sơ mi, 02 quần đùi bằng vải, 01 đôi dép vì bị cáo không có nhu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng. Về án phí: đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo: Không tranh luận về tội danh, căn cứ pháp luật áp dụng. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt tại phiên tòa của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng nhưng họ đã có lời khai trong quá trình điều tra, những lời khai này đã được cơ quan điều tra thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xét thấy sự vắng mặt của họ không làm trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh:
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận như sau: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 31/5/2025, tại nhà nghỉ T3, thuộc tổ dân phố T, phường N, thành phố Hải Phòng, Bùi Văn P đã lợi dụng sự thiếu cảnh giác của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng, Biển kiểm soát 16N6-4895 của anh Trần Tuấn A trị giá 3.750.000 đồng. Do vậy hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và như Cáo trạng số 19/CT-VKSKV6 ngày 10/9/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Hải Phòng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 59/2020/HSST ngày 08/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”; Bản án số 05/2021/HSST ngày 31/3/2021 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xử phạt 51 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án buộc bị cáo phải chấp hành là 66 tháng tù. Do hành vi của bị cáo được xét xử theo Bản án số 05/2021/HSST ngày 31/3/2021 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn là hành vi đã được thực hiện vào ngày 31/8/2020, tại thời điểm đó bị cáo chưa bị kết án theo Bản án số 59/2020/HSST ngày 08/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy nên không tính tái phạm. Bị cáo chấp hành hình phạt tù xong vào ngày 31/01/2025, theo quy định tại Điều 70 và Điều 73 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo được xác định là “Tái phạm” và bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có ông nội là ông Bùi Cao Q1 là thương binh nên bị cáo được
hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về nhân thân: Bị cáo Bùi Văn P là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về nhóm tội chiếm đoạt tài sản nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo còn rất nhiều hạn chế.
[7] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, xử bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Hải Phòng tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, đảm bảo tính phòng ngừa chung và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng phạt tiền hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 áo sơ mi dài tay màu đen, 01 quần đùi bằng vải màu xanh tím than, 01 quần đùi bằng vải màu xanh tím than có chữ Adidas, 01 đôi dép màu đen kẻ sọc trắng đỏ đều là tài sản sinh hoạt cá nhân của bị cáo, không liên quan đến vụ án và bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sựu và khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại bị hại và bị hại không còn yêu cầu gì khác về phần dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Về hành vi của bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 01/6/2025 và hành vi đột nhập vào nhà nghỉ T3, mục đích để trộm cắp tài sản nhưng chưa trộm cắp được thì bị phát hiện vào ngày 02/6/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với P về các hành vi này là phù hợp với quy định của pháp luật.
[12] Về hành vi của người đàn ông bán ma túy cho bị cáo vào ngày 31/5/2025, do không xác định được tên tuổi, nhân thân, lý lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không xử lý là phù hợp.
[13] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-
UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng, tội danh, mức hình phạt:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025, tuyên bố bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo 2 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 06 tháng 6 năm 2025.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại bị hại và bị hại không còn yêu cầu gì khác về phần dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 áo sơ mi dài tay màu đen, 01 quần đùi bằng vải màu xanh tím than, 01 quần đùi bằng vải màu xanh tím than có chữ Adidas, 01 đôi dép màu đen kẻ sọc trắng đỏ (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 9 năm 2025 giữa Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Hải Phòng).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Văn P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là anh Trần Tuấn A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về thời hiệu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Duyến |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn P - Trộm cắp TS
