Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày: 27/9/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đoàn Minh Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:- bà Lê Thị Thu Anh

ông Nguyễn Văn Quýnh

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Thành Nam, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Đặng Quang Quyết, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ninh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/HSST ngày 12/9/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thị Huyền T (không có tên gọi khác); sinh ngày: 13/7/1991 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ninh);

Nơi thường trú: khu Q, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh (nay là khu Q, phường Đ, tỉnh Quảng Ninh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Mạnh C và bà Phạm Thị T1; có chồng là Lê Đình T2 và 02 con; tiền án, tiền sự: không có;

Bị cáo đầu thú ngày 16/4/2025, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: bà Nguyễn Thị T3; sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường M, tỉnh Quảng Ninh). Vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Trung tâm T6; địa chỉ: CT4 KĐT M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội (nay là CT4 KĐT M, phường T, thành phố Hà Nội). Người đại diện theo ủy quyền: bà Phạm Thị Tuyết T4, sinh năm 1995; địa chỉ: CT4 KĐT M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội (nay là CT4 KĐT M, phường T, thành phố Hà Nội). Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bà: Phạm Thị T1, sinh năm 1958; nơi thường trú: khu Q, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh (nay là khu Q, phường Đ, tỉnh Quảng Ninh). Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

- Bà Lê Thị T5, sinh năm 1982; nơi thường trú: khu C, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh( nay là phường M, tỉnh Quảng Ninh). Vắng mặt tại phiên tòa.

- Bà Phạm Thị N, sinh năm 1978; nơi thường trú: khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường M, tỉnh Quảng Ninh). Vắng mặt tại phiên tòa.

- Chị Hà Thị H, sinh năm 2000; nơi thường trú: bản X, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã S, tỉnh Thanh Hóa). Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 3/2023, bà Phạm Thị N là chị họ của bị cáo Lê Thị Huyền T, khi biết T nhận làm thủ tục cho học sinh du học (chủ yếu đi du học Nhật Bản), nên đã giới thiệu chị Lê Thị T5 (là giáo viên trường P tại M). Thông qua chị Lê Thị T5, tháng 6/2023 T biết được gia đình chị Nguyễn Thị T3 có nhu cầu cho con trai là cháu Trần Tiến L đi du học Hàn Quốc nên đã tìm hiểu, trực tiếp liên hệ với T đặt vấn đề muốn T làm thủ tục cho cháu L đi Hàn Quốc. Sau đó, thông qua mạng xã hội Facebook Trang bắt đầu tìm kiếm các công ty chuyên tuyển dụng học sinh đi du học Hàn Quốc và thấy tài khoản của chị Hà Thị H là nhân viên trung tâm T6. T liên hệ lại với chị H thông báo trường hợp cháu L có nhu cầu đi du học Hàn Quốc. Thấy vậy, chị H đã cung cấp bảng biểu các loại tiền học phí và thủ tục hồ sơ để T trực tiếp làm việc với chị T3. Đồng thời chị H bảo T khi nào phía trường tại Hàn Quốc đồng ý nhận du học sinh nhập học thì khi đó Trung tâm L1 mới thu tiền làm các thủ tục cho du học sinh.

Sau khi chị H cho biết thông tin về việc Trung tâm LIKA chưa thu tiền ngay và tại thời điểm này T không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị T3. Để thực hiện ý định trên, T dựa vào bảng biểu các chi phí du học để yêu cầu chị T3 chuyển tiền cho T. Vào ngày 15/6/2023, T nại ra lý do làm thủ tục nhập học cho cháu L và yêu cầu chị T3 chuyển 71.100.000 đồng vào tài khoản ngân hàng TMCP S (S1) số 24567896789 mang tên “Le Thi Huyen T”; đến ngày 28/6/2023, T tiếp tục yêu cầu chị T3 chuyển 165.900.000 đồng để nộp học phí bên phía Hàn Quốc; ngày 26/7/2023, T yêu cầu chị T3 chuyển 20.000.000 đồng tiền chi phí bổ sung giấy tờ còn thiếu để nhập học; đến ngày 27/7/2023, T bố trí đưa cháu L đến Trung tâm T6 tại phường T, thành phố Hà Nội để học tiếng Hàn Quốc và các chương trình trước khi đi du học. Ngày 06/10/2023, T tiếp tục gọi điện thoại cho chị T3 nại ra vấn đề cần phải đóng tiền cọc để cháu L được sang Hàn Quốc du học, yêu cầu chị T3 chuyển khoản số tiền 237.000.000 đồng, chị T3 đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu của T. Sau khi nhận được tổng cộng 494.000.000 đồng của chị T3, T hứa hẹn với T3 đến tháng 12/2023 sẽ hoàn thiện toàn bộ thủ tục để L sang Hàn Quốc du học. Số tiền chiếm đoạt được T đem tiêu sài cá nhân hết.

Đến khoảng tháng 12/2023 để tránh hành vi chiếm đoạt bị phát hiện, T liên hệ với chị T3, tiếp tục nại ra việc cháu L còn thiếu bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông nên phải đến tháng 03/2024 mới có thể hoàn thiện hồ sơ thì được chị T3 tin tưởng, đồng ý chờ. Cuối tháng 12/2023, trong quá trình học tập tại Trung tâm T6, L đã được trường tại Hàn Quốc đồng ý cho nhập học, đồng thời gửi bảng kê học phí cần đóng. Lúc này, Trung tâm LIKA liên lạc cho chị T3 yêu cầu chị T3 đóng tiền làm thủ tục hồ sơ cho L đi du học và cho chị T3 biết T chưa đóng bất kì khoản chi phí nào cho Trung tâm. Nghi ngờ bị lừa nên chị T3 gọi điện yêu cầu T đóng tiền hoàn thiện thủ tục du học cho L hoặc trả lại toàn bộ tiền nhưng T chỉ nhiều lần hứa hẹn rồi cắt đứt liên lạc với chị T3. Ngày 23/10/2024, chị Nguyễn Thị T3 đến Công an thành phố M trình báo sự việc.

Sau khi biết hành vi phạm tội bị phát hiện, Lê Thị Huyền T xuất cảnh sang Campuchia để bỏ trốn. Đến ngày 16/4/2025, biết rằng không thể mãi lẩn trốn, Lê Thị Huyền T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng chị Hà Thị H có nội dung lời khai thể hiện như nội dung vụ án. Ngoài ra sau khi đầu thú, bị cáo Lê Thị Huyền T đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Lê Thị Huyền T.

Tại Bản cáo trạng số 2602/CT-VKSKV6, ngày 11/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Ninh truy tố bị cáo Lê Thị Huyền T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự;

*)Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Thị Huyền T khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo thực hiện như nội dung vụ án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T1 không yêu cầu bị cáo T phải trả số tiền 494.000.000 đồng mà bà đã trả cho bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo; sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Huyền T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2025.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và bị cáo nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M trước đây (nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái trước đây (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Ninh), Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh, điều khoản áp dụng:

Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, nội dung chuyển khoản tiền do Ngân hàng cung cấp và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 15/6/2023 đến ngày 06/10/2023, bằng thủ đoạn gian dối yêu cầu chị T3 nộp tiền để cho con làm thủ tục để đi học ở Hàn Quốc (mặc dù chưa cần phải nộp tiền ngay), bị cáo Lê Thị Huyền T đã chiếm đoạt của chị T3 tổng số tiền là 494.000.000đ (bốn trăm chín mươi bốn triệu đồng), cụ thể:

- Ngày 15/6/2023, T nại ra lý do làm thủ tục nhập học cho cháu L và yêu cầu chị T3 chuyển 71.100.000 đồng vào tài khoản ngân hàng TMCP S (S1) số 24567896789 mang tên “Le Thi Huyen T";

- Ngày 28/6/2023, T tiếp tục yêu cầu chị T3 chuyển 165.900.000 đồng để nộp học phí bên phía Hàn Quốc;

- Ngày 26/7/2023, T yêu cầu chị T3 chuyển 20.000.000 đồng tiền chi phí bổ sung giấy tờ còn thiếu để nhập học;

- Ngày 06/10/2023, T tiếp tục gọi điện thoại cho chị T3 nại ra vấn đề cần phải đóng tiền cọc để cháu L được sang Hàn Quốc du học, yêu cầu chị T3 chuyển khoản số tiền 237.000.000 đồng.

Mặc dù sau khi cháu Trần Tiến L học xong tại Trung tâm LIKA, bị cáo Lê Thị Huyền T có đóng 10 triệu đồng học phí cho cháu L vào tháng 01/2024, tuy nhiên thời điểm bị cáo chiếm đoạt số tiền 494.000.000 đồng đã hoàn thành vào ngày 06/10/2023, việc bị cáo đóng 10.000.000 đồng học phí cho cháu nhằm mục đích che giấu việc chiếm đoạt số tiền 494.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có cơ sở xác định số tiền bị cáo chiếm đoạt của chị T3 là 494.000.000 đồng.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Do số tiền bị cáo Lê Thị Huyền T chiếm đoạt là 494.000.000đ (bốn trăm chín mươi bốn triệu đồng), nên hành vi của bị cáo T đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Ninh là có căn cứ pháp lý.

Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng...”.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật Hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải xét xử mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội.

[3] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có ông chú ruột là liệt sỹ, ông nội là người có công với cách mạng được tặng Huy chương kháng chiến, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung, tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Trên cơ sở xem xét tính chất mức độ hành vi, số tiền bị cáo chiếm đoạt, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo. Mặc dù số tiền chiếm đoạt của bị cáo rất lớn là 494.000.000 đồng (gần cuối khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự), tuy nhiên xét thấy bị cáo là phụ nữ, hiện đang có 02 con nhỏ, toàn bộ số tiền chiếm đoạt bị cáo đã tác động gia đình trả cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có người thân có công với cách mạng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về phần dân sự: Toàn bộ số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại, bị hại không có yêu cầu gì đối với bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường cho bị hại; số tiền 23.000.000 đồng còn thiếu trong tổng số tiền ăn ở, học phí của cháu L phải chịu là 33.000.000 đồng, trung tâm T6 không yêu cầu bồi thường,do đó phần dân sự trong vụ án đã được giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[6] Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: Cần buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Huyền T 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/4/2025.

*) Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Thị Huyền T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

*)Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND khu vực 6 – Quảng Ninh;
  • - Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS&HTTP CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 6 – Quảng Ninh;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Minh Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 27/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Huyền Trang 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/4/2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger