TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 228/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26/9/2025 V/v "Tranh chấp hôn nhân gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Sơn
Bà Trần Thị Ngọc Hà
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Xuân Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Phương Q - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 113/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025 về việc "Tranh chấp hôn nhân gia đình" giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị C, sinh năm 2002;
Định danh cá nhân: 038302002054; Cấp ngày: 019/2017; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ: thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. (Nay là thôn B, xã Q, tỉnh Thanh Hóa).
2. Bị đơn: Anh Lê Văn L, sinh năm 1999;
Định danh cá nhân: 038099005746; Cấp ngày: 18/7/2019; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (Nay là thôn D, xã Q, tỉnh Thanh Hóa).
Địa chỉ hiện nay: Đài Loan.
Tại phiên toà vắng mặt các đương sự.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 14/4/2025, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị C trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn L kết hôn ngày 17 tháng 5 năm 2021, có đăng kí kết hôn và tổ chức đám cưới tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là không có tình cảm, không có tiếng nói chung. Tháng 11 năm 2021 anh Lê Văn L đi Đài Loan đến nay chưa về, chị không còn liên lạc gì với anh L, cũng không biết địa chỉ của anh L ở bên Đài Loan nhưng chị được biết anh L vẫn thường xuyên liên hệ về với gia đình. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòà án nhân dân tỉnh T xem xét cho chị được ly hôn anh Lê Văn L.
- Về con chung: Chị và anh L không có con chung nên không đề nghị Tòà án xem xét, giải quyết.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị và anh L không có tài sản hay công nợ chung, không đề nghị Tòà án xem xet, giải quyết.
Chị Trần Thị C chỉ biết hiện nay anh L đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, chị không có địa chỉ cụ thể nơi ở và làm việc của anh L. Vì vậy, đề nghị Tòa án xác minh thông tin của anh L qua mẹ anh L là bà Lê Thị H - Địa chỉ: Thôn D, xã Q, tỉnh Thanh Hóa.
* Làm việc với gia đình anh L: Tại biên bản làm việc ngày 19/8/2025 và ngày 22/8/2025, bà Lê Thị H (mẹ đẻ anh L) không cung cấp thông tin cho Toà án, không nhận các Văn bản tố tụng của Toà án.
* Xác minh tại địa phương: Theo ông Lê Văn N (Trưởng thôn D, xã Q, tỉnh Thanh Hóa):
Anh Lê Văn L và chị Trần Thị C đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, Thanh Hóa và tổ chức cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn một thời gian thì chị C về nhà mẹ đẻ, nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không nắm được. Năm 2021, anh L đi Đài Loan chưa trở về địa phương, không rõ địa chỉ của anh L bên Đài Loan.
Về con chung: Anh L và chị C không có con chung
Về tài sản và công nợ chung của anh, chị: Anh, chị có tài sản, công nợ gì chung địa phương không được biết.
* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị Toà án tiến hành xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được niêm yết Quyết định xét xử và quyết định hoãn phiên toà nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
+ Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị C, xử cho chị C được ly hôn anh Lê Văn L.
+ Về con chung: Vợ, chồng không có nên không giải quyết.
+ Về tài sản và công nợ chung: Vợ, chồng không có nên không giải quyết.
+ Về án phí: Chị Trần Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:
Chị Trần Thị C là nguyên đơn đăng ký nhân khẩu thường trú tại thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóá. (Nay là thôn B, xã Q, tỉnh Thanh Hóa); Bị đơn là anh Lê Văn L trước khi xuất cảnh ở tại thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hoa (Nay là thôn D, xã Q, tỉnh Thanh Hóa), nhưng hiện nay đang sinh sống tại Đài Loan. Trong vụ án này bị đơn cư trú ở nước ngoài, tuy nhiên bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại Q, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:
Chị C chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh L ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh L ở Đài Loan. Theo cung cấp của chính quyền địa phương anh L đi Đài Loan từ năm 2021, từ đó không trở về Việt Nam, không biết địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Tòa án cũng đã phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành giao các văn bản tố tụng cho thân nhân anh L nhưng gia đình không nhận, nên đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự:
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị C vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Lê Văn L mặc dù đã được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân:
Chị Trần Thị C và anh Lê Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp.
Chị C trình bày: Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là không có tình cảm, không có tiếng nói chung. Từ tháng 11 năm 2021 anh Lê Văn L đi Đài Loan đến nay chưa về, chị không còn liên lạc gì với anh L.
Xác minh thông tin tại địa phương thì được biết: Anh L, chị C kết hôn một thời gian thì chị C về nhà mẹ đẻ. Từ năm 2021, anh L đi Đài Loan chưa trở về địa phương. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị C và anh L đã không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị C được ly hôn anh L là phù hợp.
[2.2]. Về con chung:
Vợ, chồng không có nên không giải quyết.
[2.3]. Về tài sản, công nợ chung:
Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3]. Về án phí:
Chị Trần Thị C là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4]. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
2. Xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị C.
- - Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị C được ly hôn anh Lê Văn L
- - Về con chung: Không có nên Toà án không giải quyết.
- - Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
3. Về án phí:
Chị Trần Thị C phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo Biên lai thu số 0000856 ngày 20/5/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
4. Quyền kháng cáo:
Chị Trần Thị C có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Anh Lê Văn L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt và niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dung |
Bản án số 228/2025/HNGĐ-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 228/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị C khởi kiện ly hôn anh Lê Văn L
