Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3-CÀ MAU

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2025/HNGĐ-ST

Ngày 07-11-2025

V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Quang Minh
  2. Ông Nguyễn Việt Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Bảo Trân- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3-Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 07 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3-Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 223/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 326/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Đỗ Bé B, sinh năm 1989 (có mặt)
  • Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã K, tỉnh Cà Mau.
  • Căn cước công dân số [...]; Cấp ngày 25/8/2022.
  • - Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1984 (vắng mặt)
  • Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã K, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 10/9/2025 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đỗ Bé B trình bày: Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn T sống chung với nhau vào năm 2009, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nay là xã K, tỉnh Cà Mau (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 30 ngày 09/3/2009). Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong thời gian chung sống vợ chồng lúc đầu sống hạnh phúc, thời gian về sau phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị và anh T đã sống ly thân hơn 06 tháng nay. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống giữa chị với anh T có 02 người con chung tên Phạm Nhựt D, sinh ngày 01/02/2009 và Phạm Nhựt T1, sinh ngày 06/01/2020. Khi ly hôn chị đồng ý giao cháu D cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị yêu cầu nuôi cháu T1.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Phạm Văn T: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh Phạm Văn T vẫn vắng mặt không lý do; không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

Tại phiên tòa, chị B cương quyết ly hôn; về con chung chị đồng ý giao các cháu D và T2 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Phạm Văn T có nơi cư trú tại ấp L, xã K, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3-Cà Mau, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Chị Đỗ Bé B khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Phạm Văn T, tranh chấp nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, nuôi con chung" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Chị B là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự chị B là nguyên đơn, anh T là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị B có mặt, anh T vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Bé B và anh Phạm Văn T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2009, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo luật định. Quá trình chung sống vợ chồng giữa chị B và anh T phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống không hòa hợp, không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh đã sống ly thân hơn 06 tháng nay. Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị B, cho chị B được ly hôn với anh T.

[3] Về con chung: Trong thời gian chung sống chị B và anh T có 02 người con chung tên Phạm Nhựt D, sinh ngày 01/02/2009 và Phạm Nhựt T1, sinh ngày 06/01/2020. Khi ly hôn chị đồng ý giao các cháu D và T1 cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng. Xét, con chung tên D và T1. Hiện nay đang sống cùng với anh T, từ khi chị và anh T sống ly thân đến nay. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao cháu Phạm Nhựt D, sinh ngày 01/02/2009 và Phạm Nhựt T1, sinh ngày 06/01/2020 cho anh Phạm Văn T được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đỗ B1 Ba không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị B xác định tự thỏa thuận không có nên HĐXX không đặt ra xem xét. Sau này có phát tranh chấp được giải quyết ở vụ án khác

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Ba P chịu tiền án phí sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Bé B về việc ly hôn với anh Phạm Văn T.
    • - Về con chung: Giao các cháu Phạm Nhựt D, sinh ngày 01/02/2009 (Giới tính: Nam) và Phạm Nhựt T1, sinh ngày 06/01/2020 (Giới tính: Nam) cho anh Phạm Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đỗ B1 Ba không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
  2. Về án phí: Chị Đỗ B1 Ba phải nộp số tiền 300.000 đồng; Ngày 09/10/2025 chị B đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001324 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 3-Cà Mau, nay được chuyển thu án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Cà Mau;
  • - Phòng THADS khu vực 3-Cà Mau;
  • - Cơ quan đã đăng ký việc kết hôn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2025/HNGĐ-ST ngày 07/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 226/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger