|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 225/2025/DS-PT
Ngày 26 tháng 12 năm 2025
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình.
- Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tú; Bà Nguyễn Thị Hằng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 299/2025/TLPT-DS ngày 27/10/2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2025/DSST ngày 07/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 102/2025/QĐPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Bá V, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Bá V: Ông Giáp Quang K – Luật sư, Công ty L4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; Địa chỉ: Số I, đường H, phường B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Bà Đặng Thị N, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Anh Trần Bá S, sinh năm 1992 (có mặt).
- Chị Đàm Thị Thu T2, sinh năm 2002 (vắng mặt). Cùng địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Trần Bá T3, sinh năm 1957; Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Bá T3: Ông Hoàng Trọng N1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T13 (có mặt).
- Chị Trần Thị H, sinh năm 1996 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1964 (có mặt). Cùng địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chị Trần Thị H1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn D, xã H, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Chị Trần Thị H2, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số nhà C, ngõ E, tổ dân phố H, phường B, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Chị Trần Thị H3, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường P, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Chị Trần Thị V1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Bà Trần Thị B, sinh năm 1959; Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường P, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Bà Trần Thị H4, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Bà Trần Thị C, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Ông Trần Bá Đ (tức Trần Bá H5), sinh năm 1965; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Bà Trần Thị N2, sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Bà Trần Thị N3, sinh năm 1949; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Bà Trần Thị H6, sinh năm 1953; Địa chỉ: Số nhà H, đường T, khu dân cư S, phường B, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1947; Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1967; Địa chỉ: Số nhà A, đường C, tổ V, phường B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị T7, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số nhà G, đường L, tổ dân phố P, phường B, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Ông Trần Bá T8, sinh năm 1952; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- UBND phường T, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị K1 – Chủ tịch UBND phường T (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền ông Hoàng Văn T9 - Chuyên viên Văn phòng HĐND và UBND phường T theo quyết định số 471/QĐ-UBND ngày 29/7/2025 (vắng mặt).
Do có kháng cáo của ông Trần Bá T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Ngày 15/01/2006, ông và ông V có lập “Giấy thỏa thuận đổi ruộng sản xuất nông nghiệp”, theo đó ông đổi cho ông V diện tích 1320m² đất nông nghiệp thuộc thửa đất số 305 tại xứ đồng Cà Khai. Ông V đổi cho ông thửa đất số 253, diện tích 1176m² tại xứ đồng Khanh Vậy. Kể từ khi đổi ruộng, hai bên canh tác, sử dụng ổn định trên thửa ruộng đã đổi cho nhau, không ai có ý kiến phản đối cũng không ai có tranh chấp gì. Năm 2021, sau khi bà T10 chết, ông Trần Bá T3 đã ra gây gổ và cấm gia đình ông không được canh tác trên thửa đất số 253 với lý do thửa đất này đã được cấp GCNQSDĐ cho hộ ông T3. Ông đã nói cho ông V biết về sự việc này và yêu cầu ông V trả lại cho ông diện tích 1320m² đất nông nghiệp thuộc thửa đất số 305 tại xứ đồng Cà Khai nhưng ông V không đồng ý nên hai bên có tranh chấp.
Ông T xác định kích thước của diện tích 1320m² đất nông nghiệp thuộc thửa đất số 305 tại xứ đồng Cà Khai trước khi ông đổi cho ông V có chiều dài 44m, chiều rộng 30m và có tứ cận tiếp giáp như sau: phía Nam giáp ruộng nhà ông Trần Bá H7, phía Bắc giáp mương tưới nước cho xứ đồng C, phía Tây giáp ruộng nhà ông Đặng Xuân K2, phía Đông giáp ruộng nhà ông Đặng Ngọc N4 (nay cũng đã đổi cho nhà ông V canh tác). Tuy nhiên, ông không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh.
Ông nhất trí với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nhưng không đồng ý với kết quả đo đạc hiện trạng ngày 08/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y và ngày 19/6/2025 của Công ty TNHH T14 do cả 02 lần đo đều không xác định được đúng diện tích 1320m² đất nông nghiệp thuộc thửa đất số 305 ông đã đổi cho ông V nhưng ông không đề nghị đo đạc lại.
Nay ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:
- Buộc ông Trần Bá V phải khôi phục nguyên trạng ban đầu và trả lại cho ông T diện tích 1320m² (03 sào 10 thước) đất nông nghiệp tại khu đồng C (nay thuộc thửa đất số 305, tờ bản đồ số 47, địa chỉ Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh) ông T đã đổi cho ông V theo giấy đổi ruộng ngày 15/1/2006.
- Buộc ông Trần Bá V phải bồi thường thiệt hại kinh tế cho gia đình ông T số tiền 40.000.000 đồng do từ năm 2021 đến nay gia đình ông T không có ruộng canh tác, sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, ông T không có yêu cầu khởi kiện nào khác.
Bị đơn ông Trần Bá V và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông V - Luật sư Giáp Quang K thống nhất trình bày: Thửa đất số 253, tờ bản đồ số 04 ban đầu có diện tích là 1440m² được nhà nước giao cho cụ Trần Bá H7. Năm 1987, cụ H7 đã chia cho ông T3 một phần diện tích của thửa đất số 253 là 264m² còn lại diện tích 1176m² cụ H7 vẫn tiếp tục canh tác. Sau khi ông V kết hôn với bà N vẫn tiếp tục ở chung với cụ H7 nên được cụ H7 giao cho canh tác thửa đất số 253 cho đến khi đổi cho ông T năm 2006.
Ông T3 trình bày được cụ H7 cho 02 định suất của cụ H7 trong đó có thửa đất 253 là không đúng. Lý do ngày 24/5/1999, ông T3 được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 253 là do khi đó ông V đi làm ăn xa, không có nhà ông T3 đã động viên cụ H7 gửi thửa đất số 253 diện tích 1176m² ở xứ đồng Khanh Vậy vào GCNQSDĐ của ông T3 để được miễn giảm thuế do ông T3 khi đó là bệnh binh và toàn bộ thủ tục cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 253, diện tích 1176m² cho hộ ông T3 là do ông T3 tự thực hiện, không phải do cụ H7 đi làm như ông T3 nói. Đó cũng chính là lý do vì sao trong cùng GCNQSDĐ của ông T3 với cùng thửa đất số 253 nhưng lại tách thành 02 phần diện tích riêng biệt gồm một phần diện tích 264m² và phần là diện tích 1176m². Do khi đó cụ H7 còn sống cũng đã nói rõ là chỉ gửi thửa đất số 253 vào GCNQSDĐ của ông T3 để được miễn thuế, ông T3 lại là anh trai ruột và quan trọng là trên thực tế ông V vẫn là người trực tiếp canh tác, nộp thuế đối với thửa đất này và ngay cả khi ông V đổi cho ông T canh tác thì ông T3 cũng không có ý kiến gì nên ông V mới không có ý kiến hay khiếu nại gì về việc thửa đất số 253 được cấp vào GCNQSDĐ của hộ gia đình ông T3.
Ngày 15/01/2006 ông và ông Nguyễn Văn T là anh em họ đã thống nhất đổi ruộng cho nhau và hai bên có lập giấy đổi ruộng như trên nhưng thực tế việc thoả thuận đổi ruộng này là do cụ H7, cụ D và cụ T10, cụ T5 đã thoả thuận với nhau từ trước. Vì trước khi hai bên đổi ruộng thì ông T và ông V đều đang ở cùng bố mẹ và được bố mẹ giao cho trực tiếp quản lý, canh tác trên hai thửa ruộng này nên các ông, bà đã để cho ông T và ông V đứng ra ký vào giấy đổi ruộng.
Ông không đồng ý với việc ông T xác định diện tích 1320m² đất nông nghiệp thuộc thửa đất số 305 ông T đổi cho ông có kích thước chiều dài là 44m, chiều rộng là 30m vì khi đổi đất hai bên chỉ ước chừng diện tích, không đo thể trên thực tế. Ông nhất trí với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản ngày 08/9/2023 và ngày 19/6/2025.
Nay ông V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T và giữ nguyên yêu cầu phản tố như sau: Yêu cầu Toà án công nhận giao dịch dân sự “Giấy thoả thuận đổi ruộng đất nông nghiệp” được ký giữa ông Trần Bá V với ông Nguyễn Văn T ngày 15/01/2006 là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, ông V đề nghị Tòa án xem xét hủy một phần GCNQSDĐ do UBND huyện Y cấp cho hộ ông Trần Bá T3 theo GCNQSDĐ số N 800447, số vào sổ cấp giấy 00111 QSDĐ/111-QDDUBH ngày 24/5/1999 đối với thửa đất số 253, tờ bản đồ số 04, diện tích 1176m². Ngoài ra, ông V không có yêu cầu nào khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện và ý kiến của chồng bà ông Nguyễn Văn T, không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông Trần Bá V, không bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị N trình bày: Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện ông Nguyễn Văn T, nhất trí với yêu cầu phản tố và ý kiến của chồng bà ông Trần Bá V, không bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Bá T3 và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông T3 - ông Hoàng Trọng N1 thống nhất trình bày: Nguồn gốc thửa đất 253 diện tích 1176m² ở xứ đồng Khanh Vậy là được HTX chia cho gia đình cụ H7, cụ D, ông T3, bà T4 và các con ông T3 vào năm 1982 với diện tích ban đầu là 1440m². Năm 1982, nhà nước giao ruộng theo định suất, gia đình ông có 05 khẩu, được 07 định xuất, mỗi định xuất được 432m² nên thửa ruộng này ông T3 được nhận thêm 02 định suất của bố mẹ ông T3 vì ông T3 là con trưởng. Năm 1987, cụ H7 cho vợ chồng ông T3 ra ở riêng và cắt diện tích 264m² đất thuộc thửa đất số 253 cho vợ chồng ông T3 nhận khoán, còn lại diện tích 1176m² cụ H7 tiếp tục sử dụng. Mọi thủ tục để được cấp GCNQSDĐ cho hộ ông T3 là do cụ H7 làm, ông T3 mới ở bộ đội về không biết. Trên sổ theo dõi ruộng đất của thôn tên là Trần Bá H7. Phần diện tích 01 định suất ruộng của cụ D hiện nay do ông V đang quản lý.
Thửa đất số 253 có diện tích 1176m² nằm trong tổng diện tích 3936m² đã được nhà nước cấp GCNQSDĐ ngày 24/5/1999 cho hộ gia đình ông T3. Thời điểm đó vợ chồng ông T3 sức khoẻ yếu, các con còn nhỏ, sức kéo trâu, bò không có nên ông T3 để cho bố mẹ ông canh tác. Trước đó bố mẹ ông cùng các anh em trong gia đình có khai phá và năm 1988 có mua của ông Nguyễn Trọng L1 ở thôn T khoảng 1.200m² đất tại xứ đồng Cà Khai gần thửa ruộng cụ B1 mà anh T đang quản lý. Sau đó, bố ông nói để tiện cho cả 02 gia đình nên năm 2006 bố ông đã đổi ruộng tạm thời cho ông T nên ông T3 không có ý kiến gì. Năm 2012, bố mẹ ông T3 đều mắc bệnh rồi chết. Cuối năm 2020 ông phát hiện thửa đất số 253, diện tích 1176m² đã được cấp GCNQSDĐ cho gia đình ông ngày 24/5/1999 nay lại quy chủ sử dụng tên của ông Nguyễn Văn T nên cuối năm 2021 ông buộc phải đòi lại đất canh tác từ gia đình ông T.
Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, ông T3 mới được biết giấy đổi ruộng ngày 15/01/2006 giữa ông T và ông V lập với nhau nhưng chưa được sự đồng ý của vợ chồng ông T3 và các con ông là hoàn toàn trái pháp luật. Ông V cho rằng thửa đất 253 là của gia đình ông V là không có cơ sở, cơ sở pháp lý là GCNQSDĐ. Ông V cho rằng ông T3 lợi dụng chính sách là người có công để tự ý đi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất 253, diện tích 1176m² vào GCNQSDĐ của ông T3 là không đúng vì ông được cụ H7 cho thêm 02 định suất. Lý do mãi đến cuối năm 2021 ông mới đòi lại thửa đất này từ ông T là bởi ông muốn chờ sự tự giác trả lại thửa ruộng từ vợ chồng ông V. Ông không có ý kiến gì về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản. Ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T, không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông Trần Bá V và không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Bá H5 (tức Trần Bá Đ) trình bày: Ông nhất trí với ý kiến của ông Trần Bá V về nguồn gốc, quá trình sử dụng, hiện trạng của thửa đất 253, diện tích 1176m² như trên. Về lý do ông T3 được Nhà nước cấp GCNQSDĐ đất với diện tích 1176m² thuộc thửa đất số 253 là do vào năm 1999 địa phương ông có phổ biến về hình thức chuyển diện tích ruộng đất nông nghiệp của gia đình vào GCNQSDĐ của các thành viên trong gia đình là đối tượng chính sách để được hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước. Khi đó, trong gia đình ông có ông T3 là bệnh binh nên bố ông mới để ông T3 đứng tên trên GCNQSDĐ đối với diện tích 1176m² thuộc thửa đất số 253 để được hưởng ưu đãi chứ không phải cho ông T3. Bố mẹ ông chưa bao giờ nói với các con về việc cho ông T3 diện tích 1176m² đất này. Nếu năm 1999 bố mẹ ông cho ông T3 cả diện tích 1176m² đất còn lại của thửa đất 253 nêu trên thì không có lý do gì mà 02 diện tích đất cùng thuộc một thửa đất số 253, tờ bản đồ số 4 và được cấp GCNQSDĐ ngày 24/5/1999 mà trong GCNQSDĐ lại vẫn tách thành 02 thửa với 02 diện tích khác nhau. Nên việc ông T3 trình bày như ở trên là không đúng. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T, nhất trí với yêu cầu phản tố của ông V và không có yêu cầu độc lập hay ý kiến gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B, bà Trần Thị C, bà Trần Thị H4, bà Trần Thị N2 đều trình bày: Thửa đất số 253, tờ bản đồ số 04 ban đầu có diện tích là 1440m² và được bố mẹ các bà (cụ H7 và cụ D) cùng canh tác với vợ chồng ông V. Năm 1987, cụ H7 đã chia cho ông T3 diện tích 264m² của thửa đất số 253, diện tích còn lại là 1176m² vẫn do bố mẹ ông và ông V canh tác. Đến năm 2006 bố mẹ các bà đổi thửa đất số 253 này lấy thửa đất diện tích là 1320m² (nay thuộc thửa đất số 305) của gia đình cụ T10 do ông T canh tác, sử dụng. Sau khi đổi ruộng cho nhau thì hai nhà đều canh tác ổn định trên thửa ruộng đã đổi, địa phương và các thành viên còn lại của hai gia đình đều biết nhưng không ai có ý kiến hay tranh chấp gì. Do các bà đều đã lập gia đình, ở riêng không còn liên quan gì đến thửa đất số 253 này.
Các bà có nghe ông T3 nói được cụ H7 cho 02 định suất đất ruộng của cụ H7 trong đó có thửa đất số 253, diện tích 1176m² nhưng do vợ chồng ông T3 sức khỏe yếu, không canh tác được nên để cho cụ H7 mượn lại canh tác nhưng việc cho ông T3 vào thời điểm nào, có văn bản cho hay không thì các bà không biết và cũng không nắm được ông T3 được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất này từ khi nào. Các bà nhất trí với ý kiến của ông T3 và xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, mọi văn bản của Tòa án giao cho các bà, các bà đề nghị Tòa án giao cho ông T3 nhận thay. Nay các bà xác định không có ý kiến gì về việc đổi ruộng giữa hai nhà, cũng không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T4 trình bày: Bà xác định thửa đất số 253, diện tích là 1176m² ông V đổi cho ông T đã được cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Trần Bá T3 (chồng bà) ngày 24/5/1999. Bà nhất trí và thống nhất hoàn toàn với ý kiến của ông Trần Bá T3.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị H1, chị Trần Thị H2, chị Trần Thị H3 đều trình bày: Các chị xác định thửa đất số 253 ông V đổi cho ông T đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Trần Bá T3 (là bố các chị). Các chị chưa khi nào canh tác trên thửa đất này, cũng không có công sức đóng góp gì vào thửa đất này và xác định thửa đất trên là của bố mẹ các chị. Các chị có biết việc ông V đổi thửa đất này cho ông T năm 2006 và sau khi đổi ruộng hai nhà đều canh tác ổn định trên thửa ruộng đã đổi cho nhau. Hiện nay các chị đã kết hôn, ở riêng, không còn liên quan gì đến thửa đất này, không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án, xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Các chị nhất trí hoàn toàn với ý kiến của ông T3, mọi văn bản của Tòa án giao cho các chị, các chị đề nghị Tòa án giao cho ông T3 nhận thay.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N3, bà Trần Thị H6, ông Nguyễn Văn T5, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn T6, bà Nguyễn Thị T7, ông Trần Bá T8 đều trình bày: Các ông bà có biết về việc năm 2006, ông T đổi diện tích 1320m² ở xứ đồng C (nay thuộc thửa đất số 305) cho ông V canh tác để lấy diện tích 1176m² thuộc thửa đất số 253 ở xứ đồng Khanh Vậy (nay thuộc thửa đất số 393) của ông V. Sau khi hai gia đình đổi ruộng thì cả hai bên đều canh tác trên thửa ruộng đổi cho nhau từ năm 2006 đến năm 2021 thì ông T3 chiếm giữ thửa đất số 253, diện tích 1176m² ở xứ đồng Khanh Vậy. Các ông bà đều xác định thửa đất diện tích 1320m² ở xứ đồng C (nay thuộc thửa đất số 305) là đất của cụ Nguyễn Thị B1 cho bà Trần Thị T10 sau đó bà T10 cho anh T canh tác nên việc anh T đổi cho ai là quyền của anh T, các ông bà không có ý kiến hay tranh chấp gì. Các ông bà đều từ chối thừa kế đối với thửa đất, nhất trí với yêu cầu khởi kiện và ý kiến của ông Nguyễn Văn T. Các ông bà không có yêu cầu độc lập hay yêu cầu gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị V2, anh Trần Ba S1, chị Đàm Thị Thu T2 đều trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T, nhất trí hoàn toàn với yêu cầu phản tố của ông Trần Bá V, không có yêu cầu độc lập hay ý kiến gì khác trong vụ án này.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND phường T trình bày: Năm 2006, gia đình ông Nguyễn Văn T đổi diện tích 1320m² ở xứ đồng C (nay thuộc thửa đất số 305) cho gia đình ông Trần Bá V canh tác để lấy thửa đất số 253, diện tích 1176m² ở xứ đồng Khanh Vậy (nay thuộc thửa đất số 305) của ông V. Từ khi đổi ruộng năm 2006 đến đầu năm 2021, hai hộ gia đình vẫn sử dụng ruộng đã đổi để sản xuất nông nghiệp và không có bất cứ đơn thư, tranh chấp gì.
Tháng 3/2021, khi đo đạc bản đồ địa chính quy đất nông nghiệp xã H, trưởng thôn thông báo các hộ ra nhà văn hóa thôn để nhận ruộng trên bản đồ, ông T3 phát hiện thửa đất số 253, tờ bản đồ số 04, tích 1176m² quy chủ tên hộ ông Nguyễn Văn T nên ông T3 có đòi lại thửa ruộng từ gia đình ông T. Từ đó dẫn đến tranh chấp đất đai giữa hộ ông T, ông V với ông T3. Sau khi tiếp nhận đơn đề nghị hòa giải tranh chấp đất đai của ông V, ông T3 và ông T, UBND xã đã tổ chức hòa giải theo quy định nhưng không thành.
Bản đồ cấp giấy đất nông nghiệp xã H là bản đồ giải thửa được thành lập từ năm 1978; đất nông nghiệp được đo bao. Hiện tại, UBND xã H không có hồ sơ lưu trữ (không có bản đồ, không có sổ mục kê). Tại UBND xã H có sổ địa chính đất nông nghiệp năm 1999. Năm 2001, xã H được đo vẽ bản đồ địa chính. Đất nông nghiệp được đo bao, không thực hiện cấp đổi GCNQSDĐ đất nông nghiệp sau đo bản đồ địa chính. Thửa đất của hộ gia đình ông T ở khu C chưa được cấp GCNQSDĐ. UBND xã không xác định được vị trí thửa đất nông nghiệp mà hộ ông T đã đổi với hộ ông V.
Quan điểm của UBND xã H nay là UBND phường T về yêu cầu khởi kiện của ông T và yêu cầu phản tố của ông V: Hộ ông T và hộ ông V đã đổi ruộng với nhau từ năm 2006. Từ năm 2006 đến đầu năm 2022, trước khi phát sinh tranh chấp, hai hộ gia đình vẫn sử dụng ổn định, liên tục trên ruộng đã đổi cho nhau. Hộ ông Trần Bá T3 sử dụng ổn định, liên tục từ thời điểm chia ruộng tới nay đối với thửa đất số 253, tờ bản đồ số 4, diện tích 264m² tại xứ đồng Khanh Vậy (giáp với thửa đất số 253, tờ bản đồ số 4, diện tích 1176m² tại xứ đồng K3 Vậy mà ông V đã đổi với ông T). Ngày 24/5/1999 UBND huyện Y đã cấp GCNQSDĐ số N 800447, số vào sổ cấp giấy 00111 QSDĐ/111 QĐUBH với tên người sử dụng đất là hộ ông Trần Bá T3. Hộ ông T3 không sử dụng thửa ruộng số 253, tờ bản đồ số 4, diện tích 1176m² từ khi được chia cho đến đầu năm 2022, khi ông T3 có đơn tranh chấp với ông V và ông T. Từ năm 2010, nhà nước đã miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp nên các hộ gia đình được giao sử dụng đất nông nghiệp không phải nộp thuế.
Theo Ban Q cung cấp, hộ ông Trần Bá V vẫn thực hiện nghĩa vụ, đóng góp các khoản theo đầu sào (thủy lợi phí, các khoản thu của thôn để chi cho hoạt động điều tiết sản xuất tại thôn) quy định tại địa phương đối với diện tích 1176m² tại xứ đồng Khanh Vậy. Trên cơ sở nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, các tài liệu chứng cứ kèm theo, đối chiếu với quy định, đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
Toà án tiến hành làm việc đối với ông Nguyễn Trọng C1 là trưởng thôn T, xã H, huyện Y cho biết: Năm 2006 gia đình ông T đổi cho gia đình ông V diện tích 1320m² nằm trong thửa đất số 305, tờ bản đồ số 47, có tổng diện tích là 9657,8m² (do gia đình ông V đã đổi của nhiều gia đình và sáp nhập của nhiều thửa đất vào với nhau, trong đó có thửa đất của gia đình ông T). Việc hai gia đình đổi đất ruộng cho nhau và canh tác ổn định trên thửa đất đã đổi từ năm 2006 cho đến khi có tranh chấp với ông T3 địa phương đều biết. Hiện nay địa phương không có tài liệu gì để chứng minh được vị trí, hiện trạng ban đầu, hình thửa, kích thước cũng như tứ cận tiếp giáp của diện tích 1320m² đất này trong cả thửa đất số 305.
Tại giấy xác nhận đề ngày 02/5/2022 của ông Đặng Trần L2 là trưởng thôn D, xã H, huyện Y cũ là người cùng sinh sống và hiện nay đang quản lý số liệu đất đai trong thôn trình bày như sau: Thời điểm trước đây địa phương giao đất theo định suất, gia đình ông Trần Bá H7 do ông H7 làm chủ hộ. Năm 1992 điều chỉnh ruộng ông H7 đã chia cho các con theo ý của gia đình, không tính theo định suất. Thửa đất số 253, có diện tích là 1176m² vẫn do ông H7 quản lý. Đến năm 1999 cấp GCNQSDĐ thì thửa ruộng này đã được đưa sang GCNQSDĐ của ông Trần Bá T3. Hình thức chuyển diện tích của gia đình vào các đối tượng chính sách để hưởng ưu đãi của Nhà nước khá phổ biển ở địa phương. Cũng vào năm 1999 thì ông H7 chuyển quyền sử dụng diện tích 1176m² của thửa đất 253 cho con trai út là ông Trần Bá V, vì ông V là người chung sống cùng vợ chồng ông cho đến cuối đời cũng là người trực tiếp canh tác trên diện tích đất này. Thửa đất 253 ban đầu có diện tích 1440m², cụ H7 đã chia cho ông T3 264m², còn lại diện tích 1176m² có trong GCNQSDĐ của ông T3 nhưng quyền sử dụng và các khoản đóng góp với địa phương thì ông V là người quản lý sử dụng và thực hiện. Ông T3 trong GCNQSDĐ có ghi diện tích được cấp là 3936m² nhưng chỉ sử dụng và đóng góp đối với diện tích 2760m². Thửa ruộng có diện tích là 1176m² ông H7 đã thoả thuận đổi cho ông T từ năm 2006, ông T đã quản lý, sử dụng đến nay là 16 năm. Đến nay đất đai có vị trí rất quan trọng nên ông T3 bất chấp sự thật để cho rằng căn cứ pháp lý là thửa đất đó có trong GCNQSDĐ của mình để đòi lại. Ông cam đoan về những gì đã trình bày ở trên là đúng sự thật. Ông cũng xác định cơ sở đã cung cấp thông tin sai để cấp có thẩm quyền đã cấp sai diện tích vào GCNQSDĐ của ông T3 nay ông nghĩ cấp có thẩm quyền cần thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho ông T3 để cấp lại GCNQSDĐ cho đúng người đang sử dụng, đúng diện tích
Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/6/2025, ông Đặng Ngọc N4 trình bày: Ông có 01 thửa ruộng nông nghiệp diện tích khoảng 240m² ở khu ruộng C đã được cấp GCNQSDĐ năm 1999 sau đó đến năm 2006 ông đổi cho ông V, hiện nay thửa ruộng ông đổi đã được sáp nhập vào thửa đất 305 của nhà ông V cùng với nhiều thửa ruộng khác. Thửa ruộng của ông trước khi đổi cho ông V có một cạnh phía Tây giáp với thửa ruộng của cụ B1 (chính là thửa ruộng đang tranh chấp giữa ông T với ông V) nhưng ông không nhớ được và đến nay cũng không thể xác định được vị trí, diện tích, hình thể, kích thước cụ thể các cạnh của thửa đất ông đã đổi cho ông V cũng như thửa ruộng diện tích 1320m² (nay nằm trong thửa đất số 305) của cụ B1 mà ông T đã đổi cho ông V năm 2006. Về bụi tre mà ông T dùng để làm mốc giới để xác định kích thước diện tích 1320m² này có chiều dài 44m, chiều rộng 30 thì thời điểm năm 2006 khi các bên đổi ruộng cho nhau là chưa có. Ông không có tài liệu, chứng cứ gì cung cấp cho Tòa án.
Quá trình tiến hành tố tụng, ngày 08/9/2023 và ngày 19/6/2025, Tòa án đã xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản đối với tài sản tranh chấp, kết quả như sau:
Ngày 08/9/2023, dưới sự chứng kiến của Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ, các đương sự tham gia, cán bộ Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y tiến hành đo đạc để xác định vị trí, kích thước, hình thửa và hiện trạng của diện tích 1320m² thuộc thửa đất số 305 đang tranh chấp theo sự dẫn đạc của ông Nguyễn Văn T. Kết quả đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y thể hiện phần diện tích theo sự dẫn đạc của ông T có diện tích là 1135m² (không phải là 1320m² như ông T xác định).
Hồi đồng xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản xác định do đất chưa được cấp GCNQSDĐ nên việc xác định loại đất theo hiện trạng sử dụng và xác định diện tích 1320m² đất tranh chấp thuộc thửa đất 305 có một phần là đất trồng cây lâu năm và một phần là đất nuôi trồng thuỷ sản (diện tích cụ thể từng loại đất đề nghị tính theo số liệu trong kết quả của đo đạc).
Do kết quả đo đạc ngày 08/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y không xác định được cụ thể diện tích đất nuôi trồng thủy sản và đất trồng cây lâu năm trong tổng diện tích 1135m² thuộc thửa đất 305 và đo đạc không đủ diện tích 1320m² như ông T xác định nên ngày 19/6/2025, ông T yêu cầu đo đạc lại. Ngày 19/6/2025, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc lại. Dưới sự chứng kiến của Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ, các đương sự tham gia, theo sự dẫn đạc của ông T, ông T tự xác định diện tích 1320m² thuộc thửa đất số 305 đang tranh chấp có chiều dài 44m và chiều rộng 30m và tự kéo thước dây đo, dẫn đạc và chỉ mốc giới cho công ty Đ2. Tuy nhiên, kết quả đo đạc lần thứ 2 của Công ty TNHH T14 thể hiện phần diện tích mà ông T dẫn đạc có diện tích là 1223,8m² (không phải là 1320m² như ông T xác định).
Do ông T xác định diện tích đất ông đang yêu cầu ông V phải trả lại có diện tích là 1320m² đất thuộc thửa đất số 305 nên ông T không đồng ý với kết đo đạc ngày 08/9/2023 và ngày 19/6/2025 đồng thời ông T tự xác định diện tích 1320m² đất mà ông yêu cầu ông V phải trả lại là đất ruộng (đất trồng lúa) việc ông V tự ý đào ao, trồng cây trên diện tích đất ruộng mà ông T đổi cho là sai mục đích sử dụng đất.
Từ những nội dung trên Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Bắc Ninh đã căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a và c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 184, Điều 185, Điều 200, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273, Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 4, 106, 107, 110 của Bộ luật dân sự năm 2005 và các Điều 117, 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 2, Điều 36, Điều 73, Điều 79 Luật đất đai 1993; khoản 5 Điều 98, Điều 99, Điều 100, khoản 2 Điều 106, Điều 203, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013; Điều 137, Điều 152 Luật đất đai năm 2024; Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc:
- Buộc ông Trần Bá V phải khôi phục nguyên trạng ban đầu và trả lại cho ông T diện tích 1320m² (03 sào 10 thước) đất nông nghiệp tại khu đồng C (nay thuộc thửa đất số 305, tờ bản đồ số 47; địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh) ông T đã đổi cho ông V theo giấy đổi ruộng ngày 15/01/2006.
- Buộc ông Trần Bá V phải bồi thường thiệt hại kinh tế cho gia đình ông T số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) do từ năm 2021 đến nay gia đình ông T không có ruộng canh tác, sản xuất nông nghiệp.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Bá V.
- Công nhận giao dịch dân sự “Giấy thỏa thuận đổi ruộng sản xuất nông nghiệp” được ký giữa ông Trần Bá V với ông Nguyễn Văn T ngày 15/1/2006 là hợp pháp.
- Ông Trần Bá V và ông Nguyễn Văn T được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký và đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 800447, số vào sổ cấp giấy 00111 QSDĐ/111-QĐUBH do UBND huyện Y cấp mang tên người sử dụng đất hộ ông Trần Bá T3 ngày 24/5/1999 đối với thửa đất số 253, tờ bản đồ số 4, diện tích 1176 m² đất trồng trọt; địa chỉ: thôn L, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí Tòa án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 19 tháng 8 năm 2025, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Bá T3 kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong phần tranh luận, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Bá T3 trình bày:
Thứ nhất: tại thời điểm đổi đất ngày 15/1/2006 mảnh đất 1176m2 này không thuộc quyền sở hữu của ông Trần Bá V nên ông V không phải là chủ sở hữu tài sản hợp pháp, lấy tài sản hợp pháp của người khác để làm tài sản riêng của mình, vậy căn cứ vào quy định nào công nhận chủ thể sở hữu hợp pháp để công nhận giấy đổi đất trên là hợp pháp.
Thứ hai: Tại thời điểm đổi đất gia đình nhà ông T chưa có GCNQSDĐ, tài sản này thuộc quyền sở hữu của bà B1, bà B1 chưa có bất cứ biên bản hay giấy tặng cho nào cho ông T nên việc ông T đứng ra làm chủ thể để đổi đất là không đảm bảo về chủ thế theo quy định hiện hành của luật đất đai và các quy định pháp luật khác có liên quan.
Thứ 3: Việc sử dụng đất Nông nghiệp và đóng thuế hàng năm không là căn cứ để chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của mình. Người nào sử dụng thì phải đóng thuế theo quy định, việc đóng thuế không làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác.
Thứ tư: Đến thời điểm này gia đình nhà ông V đã nhiều lần yêu cầu UBND huyện Y (cũ) tuyên hủy và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Trần Bá T3. Nên Việc TAND khu vực 1 - Bắc Ninh tuyên huỷ một phần cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N800447, số vào sổ cấp giấy 00111 QSDĐ – QĐUBH do UBND huyện Y cấp mang tên ông Trần Bá T3 ngày 24/5/1999 đối với thửa đất số 253, tờ bản đồ số 4, diện tích 1176m2 đất trồng trọt là không đúng với quy định của pháp luật.
Thứ năm: Về giao dịch dân sự “ Giấy thoả thuận đổi ruộng sản xuất nông nghiệp được ký giữa ông Trần Bá V và ông Nguyễn Văn T ngày 15/1/2006 được TAND khu vực 1 công nhận là hợp pháp, tuy nhiên đề nghị cấp phúc thẩm xem xét tuyên giao dịch trên là vô hiệu; Đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng quy định Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo của ông Trần Bá T3 sửa bản án sở thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS, xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Bá T3, giữ nguyên bản án sơ thẩm;
Án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trần Bá V trong thời hạn, đã thực hiện các thủ tục theo luật định là kháng cáo hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án sơ thẩm xác định về quan hệ “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp về giao dịch dân sự thẩm quyền giải quyết vụ án” thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Bắc Ninh là đúng theo quy định tại khoản 3, khoản 9 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án.
2.1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự thì: Ngày 15/01/2006, ông Nguyễn Văn T và ông Trần Bá V lập văn bản “Giấy thỏa thuận đổi ruộng sản xuất nông nghiệp” có xác nhận của ông Nguyễn Xuân L3 trưởng thôn nội dung giấy đổi ruộng như sau:
“Tên tôi là: Trần Bá V - xóm D xã H huyện Y tỉnh Bắc Giang.
Có thửa ruộng sứ đồng Khanh Vậy, đường sang N cạnh ruộng phía nam nằm dọc theo chiều mương tưới đất cấp 1, diện tích là 3 sào 4 thước (bắc bộ).
Anh Nguyễn Văn T là con trai bà Trần Thị T10 xóm V xã H - Y - Bắc Giang.
Có thửa ruộng chân đồi đồng Giữa, cạnh phía bắc của ruộng nằm dọc theo chiều mương tiêu nước đồng Cà Khai, đất cấp 4, có diện tích là 3 sào 10 thước (bắc bộ).
Hướng ứng chính sách của Đ1 và Nhà nước về dồn điền đổi thửa chuyển hưởng cơ cấu thâm canh nông nghiệp từ đơn canh sang đa canh, mang lại hiệu quả kinh tế cao, mặt khác còn phù hợp cho việc canh tác của cả hai bên.
Vì vậy 2 gia đình đều nhất trí thỏa thuận đổi ruộng cho nhau theo những điều kiện sau đây.
1. Toàn quyền quản lý canh tác và sử dụng trên thửa ruộng của mình kể từ sau khi ký thoả thuận.
2. Chịu trách nhiệm giao nộp sản phẩm cho Nhà nước trên diện tích ruộng mình canh tác cũ.
3. Sau năm 2013 nếu như có sự điều chỉnh hoặc thay đổi đất nông nghiệp theo quy định chung của Nhà nước thì việc chuyển đổi vẫn giữ nguyên giá trị chứ không có sự sáo trộn nào khác, diện tích vẫn đảm bảo đã nêu trên.
4. Giấy thoả thuận này lập thành 03 bản, mỗi bên giữ 01 bản, có giá trị như nhau.”
Mặc dù hiện nay các đương sự không ai cung cấp được bản gốc của giấy đổi ruộng ngày 15/01/2006 nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các đương sự đều thừa nhận nội dung trong bản photo giấy đổi ruộng do ông T giao nộp là đúng nên đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh. Thời điểm đổi ruộng các bên không thực hiện đo đạc hiện trạng, không có biên bản xác định vị trí, kích thước, hình thể của 02 thửa đất đổi cho nhau. Đến thời điểm xét xử sơ thẩm các đương sự không ai cung cấp được bất cứ tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc xác định vị trí, diện tích, hình thể, kích thước và hiện trạng ban đầu của hai thửa đất đã đổi cho nhau nêu trên.
2.2. Đối với thửa đất diện tích 1320m² gia đình ông Nguyễn Văn T đổi cho gia đình ông Trần Bá V:
Về diện tích thửa đất: Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì diện tích này hiện nằm trong thửa đất số 305, tờ bản đồ số 47, địa chỉ Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Theo các tài liệu địa phương cung cấp thì, do HTX không quản lý nên không có trong sổ sách, không đo đạc cụ thể nên đến nay không có tài liệu, giấy tờ nào chứng minh thửa ruộng này thời điểm được chia có diện tích, kích thước, hình thể cụ thể như thế nào. Diện tích đất trên đến nay chưa được cấp GCNQSDĐ, không còn giữ nguyên hiện trạng trước khi đổi do trong quá trình canh tác gia đình ông V đã phá bờ, gộp vào liền thửa với nhiều thửa đất đổi của các hộ gia đình khác nay thành thửa lớn có tổng diện tích là 9657m². Trên diện tích đất này gia đình ông V đã đào một phần làm ao, một phần đổ đất tôn tạo xây dựng công trình chăn nuôi và trồng cây. Phần diện tích đất này do gia đình ông Trần Bá V quản lý, canh tác, sử dụng ổn định từ năm 2006 đến nay.
Về kết quả đo đạc: Theo kết quả đo đạc ngày 08/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y thì diện tích đo đạc theo chỉ dẫn của đương sự diện tích tranh chấp được xác định là 1135m² thuộc thửa đất 305 và đo đạc không đủ diện tích 1320m² như ông T xác định nên ngày 19/6/2025, ông T yêu cầu đo đạc lại. Ngày 19/6/2025, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc lại. Theo sự dẫn đạc của ông T, ông T tự xác định diện tích 1320m² thuộc thửa đất số 305 đang tranh chấp có chiều dài 44m và chiều rộng 30m và tự kéo thước dây đo, dẫn đạc và chỉ mốc giới cho công ty Đ2. Tuy nhiên, kết quả đo đạc lần thứ 2 của Công ty TNHH T14 thể hiện phần diện tích mà ông T dẫn đạc có diện tích là 1223,8m² (không phải là 1320m² như ông T xác định).
Về nguồn gốc đất: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì diện tích đất này có nguồn gốc là thửa đất nông nghiệp của cụ Nguyễn Thị B1 (cụ ngoại của ông T) và bà Trần Thị T10 (mẹ của ông T) do ông T trực tiếp canh tác, sử dụng. Cụ B1 chết năm 1993 có một người con trai là ông Trần Bá T11. Ông T11 có 04 người con là bà Trần Thị H6, bà Trần Thị N3, ông Trần Bá T8, bà Trần Thị T10. Sau khi bà T10 chết năm 2021 hàng thừa kế của bà T10 là ông Nguyễn Văn T5, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn T6, bà Nguyễn Thị T7, ông Nguyễn Văn T. Ông T là người sử dụng thửa đất từ năm 1993 (khi cụ B1 chết) đến năm 2006 thì đổi ruộng với gia đình ông Trần Bá V. Đến nay, kể cả khi xảy ra tranh chấp với gia đình ông T cũng không ai có ý kiến thắc mắc hay đòi hỏi quyền lợi gì (kể cả quyền thừa kế) và đều thống nhất xác nhận thửa ruộng đã đổi thuộc quyền sử dụng của T. Như vậy, cần xác định ông T là người sử dụng đất trên thực tế, ông T là người thay mặt cho những người liên quan đến thừa kế của cụ B1, bà T10 để thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Do đó, việc ông T thay mặt cho các thành viên trong gia đình thực hiện giao dịch đổi ruộng với gia đình ông V là phù hợp với mục đích sử dụng và chính sách về đất đai tại thời điểm đổi đất.
2.3. Đối với Thửa đất số 253, tờ bản đồ số 4, diện tích 1176m², địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh);
Về diện tích thửa đất: Thửa đất số 253, tờ bản đồ số 4, diện tích 1176m² đã được UBND huyện Y cấp GCN số phát hành N 800447, số vào sổ cấp giấy 00111 QSDĐ/111-QĐUBH ngày 24/5/1999 mang tên hộ ông Trần Bá T3 (sau đây viết tắt là thửa đất số 253). Theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2020 hiện nay ứng với thửa đất số 393, tờ bản đồ số 54, diện tích 1289,2m² đất trồng lúa địa chỉ Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh (sau đây viết tắt là thửa đất số 393).
Về nguồn gốc: Thửa đất số 253, tờ bản đồ số 04 ban đầu có diện tích là 1440m² được nhà nước giao cho cụ Trần Bá H7. Năm 1987, cụ H7 đã chia diện tích này làm hai phần là 264m² cho ông T3 canh tác, còn lại diện tích 1176m² cụ H7 vẫn tiếp tục canh tác. Sau khi ông V kết hôn với bà N vẫn tiếp tục ở chung với cụ H7 nên được cụ H7 giao cho canh tác thửa đất số 253 cho đến khi đổi cho ông T năm 2006. Tuy ông T3 trình bày được cụ H7 cho 02 định suất trong đó có diện tích 1176m² đất thuộc thửa đất số 253 nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Trên thực tế cụ H7 và ông V vẫn là người canh tác diện tích đất này và thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, địa phương kể từ khi được giao cho đến khi có tranh chấp năm 2022. Ông T3 chưa khi nào canh tác hay thực hiện nghĩa vụ đóng góp thuế cho nhà nước, địa phương đối với thửa đất này. Năm 2012, cụ H7 và cụ D chết, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ H7 là ông Trần Bá T3, bà Trần Thị B, bà Trần Thị H4, ông Trần Bá Đ, bà Trần Thị C2, ông Trần Bá V, bà Trần Thị N2. Khi hai bên ký giấy đổi ruộng cho nhau bản thân ông T3 và những người thuộc hàng thừa kế của cụ H7, cụ D cũng biết việc ông T canh tác trên thửa ruộng này từ năm 2006 nhưng không có ý kiến phản đối hay tranh chấp gì. Như vậy, cần xác định ông V là người sử dụng đất trên thực tế, ông V là người thay mặt cho những người liên quan đến thừa kế của cụ H7, cụ D để thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Do đó, việc ông V thay mặt cho các thành viên trong gia đình thực hiện giao dịch đổi ruộng với gia đình ông T là phù hợp với mục đích sử dụng và chính sách về đất đai tại thời điểm đổi đất.
Như vậy, việc gia đình ông T và gia đình ông V thực hiện việc đổi ruộng canh tác với nhau là có thật, tự nguyện, cả hai bên đều là công dân địa phương, trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp, mục đích đổi ruộng cho nhau là để thuận tiện canh tác. Mặc dù thửa đất của gia đình ông T chưa được cấp GCNQSDĐ, nhưng trên thực tế sau khi đổi ruộng gia đình ông T và gia đình ông V đã quản lý, sử dụng diện tích đất ruộng ổn định từ năm 2006 cho đến khi phát sinh tranh chấp. Sau khi trao đổi ruộng, các bên đã tiến hành cải tạo, đào ao, xây dựng công trình phục vụ chăn nuôi, canh tác. Ngoài ra, các bên cũng đã thực hiện việc dồn điền đổi thửa với nhiều thửa đất khác, nên không thể xác định được vị trí, ranh giới thửa đất trước đây hai gia đình đã đổi cho nhau. Chủ sử dụng đất là cụ H7, cụ D và bà T10 đều chết sau khi các bên đã tiến hành đổi đất cho nhau cũng không có ý kiến gì về việc đổi đất và việc ông T, ông V sử dụng diện tích đất đã đổi. Do đó, có căn cứ để xác định rằng giao dịch đổi đất nông nghiệp giữa gia đình ông Nguyễn Văn T và ông Trần Bá V là có thật, phù hợp với mục đích sử dụng và chính sách đất đai về dồn điền đổi thửa của nhà nước, đến nay không thể thực hiện việc hoán đổi lại do không xác định được mốc giới ranh giới thửa đất trước đó đã đổi. Vì vậy, cần phải công nhận giao dịch đổi đất nông nghiệp giữa gia đình ông Nguyễn Văn T và ông Trần Bá V là có hiệu lực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Từ những căn cứ trên cho thấy bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc buộc ông Trần Bá V phải khôi phục nguyên trạng ban đầu và trả lại cho ông T diện tích 1320m² (03 sào 10 thước) đất nông nghiệp tại khu đồng C (nay thuộc thửa đất số 305) ông T đã đổi cho ông V theo giấy đổi ruộng ngày 15/01/2006 và buộc ông Trần Bá V phải bồi thường thiệt hại kinh tế cho gia đình ông T số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) do từ năm 2021 đến nay gia đình ông T không có ruộng canh tác, sản xuất nông nghiệp là có căn cứ; Và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Bá V về việc công nhận giao dịch dân sự “Giấy thỏa thuận đổi ruộng sản xuất nông nghiệp” được ký giữa ông Trần Bá V với ông Nguyễn Văn T ngày 15/1/2006 là có căn cứ.
[3] Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất số 253, tờ bản đồ số 4, diện tích 1176m² cho hộ ông Nguyễn Bá T12:
Thửa đất số 253 ban đầu có diện tích là 1440m² được nhà nước giao cho cụ Trần Bá H7. Năm 1987, cụ H7 đã chia diện tích này làm hai phần là 264m² cho ông T12 canh tác, còn lại diện tích 1176m² cụ H7 vẫn tiếp tục sử dụng và sau này là ông V sử dụng. Ông T12 trình bày được cụ H7 cho 02 định suất trong đó có diện tích 1176m² đất thuộc thửa đất số 253 là không có cơ sở, căn cứ ông đưa ra là GCNQSDĐ do UBND huyện Y cấp. Tuy nhiên, trên thực tế ông T12 chỉ sử dụng diện tích 264m², diện tích còn lại 1176m² ông V là người sử dụng trên thực tế. Ông V trình bày lý do ông T12 được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 253, diện tích 1176m² chỉ là để ông T12 đứng tên trên GCNQSDĐ để được miễn, giảm nghĩa vụ thuế với nhà nước là có cơ sở, phù hợp với lời khai của ông Đ, ông Nguyễn Xuân L3 và ông Đặng Trần L2, phù hợp quá trình canh tác, sử dụng diện tích đất trên thực tế và phù hợp với việc trong cùng GCNQSDĐ cấp cho ông T12 lại có 02 thửa đất cùng số 253, trong đó có 01 thửa diện tích 264m² và 01 thửa có diện tích 1176m². Nên việc ông T12 cho rằng thửa đất số 253 diện tích 1176m² đất là do cụ H7 cho ông T12 là chưa đủ cơ sở vững chắc.
Tại biên bản xác minh nhân khẩu của hộ cụ Trần Bá H7, ông Trần Bá V và ông Trần Bá T3 tại thời điểm cấp GCNQSDĐ năm 1999 thể hiện không xác định được tại thời điểm cấp GCNQSDĐ ngày 24/5/1999, hộ gia đình cụ H7, ông V, ông T3 có những nhân khẩu nào. Kết quả xác minh tại UBND xã H, UBND huyện Y, UBND thành phố B, không có bất cứ tài liệu, sổ sách gì liên quan đến việc chia định suất đất nông nghiệp của các hộ. Tuy nhiên, thửa đất số 253 diện tích 1176m² được xác định là của cụ H7. Mặt khác, từ khi được cấp GCNQSDĐ đến nay hộ ông T3 không sử dụng diện tích 1176m² đất. Nên việc UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ cấp cùng một thửa đất nhưng được chia làm hai diện tích khác nhau và được hai chủ thể khác nhau sử dụng là không phù hợp với đối tượng, cũng như trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ. Do đó, bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N800447, số vào sổ cấp giấy 00111 QSDĐ/111-QĐUBH do UBND huyện Y cấp mang tên người sử dụng đất hộ ông Trần Bá T3 ngày 24/5/1999 đối với thửa đất số 253, tờ bản đồ số 4, diện tích 1176 m² là có căn cứ.
Như đã phân tích ở trên, ông Trần Bá T3 kháng cáo nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ, tuy nhiên, quyền sử dụng đất trước khi ông T, ông V đổi cho nhau được xác định là của cụ B1, bà T10, cụ H7, cụ D (hiện nay các cụ đã chết). Ông T, ông V được xác định là người cư trú tại địa phương, trực tiếp sử dụng đất, thay mặt cho gia đình thực hiện việc đổi đất và sử dụng đất nông nghiệp. Các hàng thừa kế của cụ B1, bà T10, cụ H7, cụ D chưa thực hiện việc phân chia di sản theo quy định của pháp luật. Nên tại phần quyết định của bản án xác định “Ông Trần Bá V và ông Nguyễn Văn T được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký và đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật” là không phù hợp, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác. Trong trường hợp này, việc đổi đất nông nghiệp giữa hai gia đình là hợp pháp, nên những người được hưởng di sản thừa kế của cụ B1, bà T10, cụ H7 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, do đó, cần sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm.
Trong trường hợp các đương sự trong vụ án yêu cầu chia di sản thừa kế sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự không có giá ngạch đối với yêu cầu buộc ông Trần Bá V phải khôi phục nguyên trạng ban đầu và trả lại cho ông T diện tích 1320m²; 2.000.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại; Và 300.000 đồng án phí dân sự không có giá ngạch đối với yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ông Trần Bá V không phải chịu án phí đối với yêu cầu phản tố.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Các đương sự phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự,
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Bá T3. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/DSST ngày 07/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Bắc Ninh.
Căn cứ khoản 3, khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 35, điểm a và c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 184, Điều 185, Điều 200, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 4, 106, 107, 110 của Bộ luật dân sự năm 2005; Các Điều 117, 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 2, Điều 36, Điều 73, Điều 79 Luật đất đai 1993; Khoản 5 Điều 98, Điều 99, Điều 100, khoản 2 Điều 106, Điều 203, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013; Các Điều 137, Điều 152 Luật đất đai năm 2024 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc:
- Buộc ông Trần Bá V phải khôi phục nguyên trạng ban đầu và trả lại cho ông T diện tích 1320m² (03 sào 10 thước) đất nông nghiệp tại khu đồng C (nay thuộc thửa đất số 305, tờ bản đồ số 47 địa chỉ Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh) ông T đã đổi cho ông V theo giấy đổi ruộng ngày 15/01/2006.
- Buộc ông Trần Bá V phải bồi thường thiệt hại kinh tế cho gia đình ông T số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) do từ năm 2021 đến nay gia đình ông T không có ruộng canh tác, sản xuất nông nghiệp.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Bá V.
- Công nhận giao dịch dân sự “Giấy thỏa thuận đổi ruộng sản xuất nông nghiệp” được ký giữa ông Trần Bá V với ông Nguyễn Văn T ngày 15/1/2006 là hợp pháp.
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 800447, số vào sổ cấp giấy 00111 QSDĐ/111-QĐUBH do UBND huyện Y cấp mang tên người sử dụng đất hộ ông Trần Bá T3 ngày 24/5/1999 đối với thửa đất số 253, tờ bản đồ số 4, diện tích 1176 m² đất trồng trọt; địa chỉ: thôn L, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố D, phường T, tỉnh Bắc Ninh).
- Về án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 8.875.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009876 ngày 21/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng (nay là phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Bắc Ninh). Hoàn trả lại ông Nguyễn Văn T số tiền 6.275.000 đồng. Ông Trần Bá V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố. Hoàn trả ông Trần Bá Vận S2 tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010072 ngày 15/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng (nay là phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Bắc Ninh).
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 17.461.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản (xác nhận ông T nộp đủ).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Bình |
Bản án số 225/2025/DS-PT ngày 26/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 225/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Tuyến, sinh năm 1971; Bị đơn: Ông Trần Bá Vận, sinh năm 1971
