Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - HÀ NỘI

Bản án số: 223/2025/HS-ST

Ngày: 11/12/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đồng Minh Hoàn

- Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1- Bà Huỳnh Thị Thanh Hà (Giáo viên hưu trí)
  • 2- Bà Đinh Thị Phương Anh (Hiệu trưởng Trường THCS Tô Hoàng)

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Bích Phương - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Nội.

- Đại diện VKSND khu vực 3 - Hà Nội tham gia phiên toà:

Ông Đỗ Minh T - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 239/2025/TLST - HS ngày 13/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Là Văn T2; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 22/11/2008; Giới tính: Nam; HKTT: Bản N, xã N, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở: Không có nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơ Mú; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Là Văn P và bà: Lý Thị C; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/9/2025 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Lý Văn T1; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2000; Giới tính: Nam; HKTT: Bản N, xã N, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở: Không có nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơ Mú; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông: Lý Văn N và bà: Khoàng Thị H; Vợ: Quàng Thị Đ; con: 03 con (lớn nhất 07 tuổi, bé nhất 01 tuổi); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/9/2025 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T2: Ông Là Văn P, sinh năm 1989; Địa chỉ: Bản N, xã N, tỉnh Điện Biên (bố đẻ bị cáo). Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo T2, bị cáo T1: Ông Phan Thanh B – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22h15' ngày 09/9/2025, tại khu vực ngã tư L - Đ, phường H, thành phố Hà Nội, Là Văn T2 và Lý Văn T1 bàn với nhau mỗi người góp 100.000đ để cùng đi mua ma túy về sử dụng. Sau đó, T1 đưa 100.000đ cho T2 và cả hai cùng đi bộ đến khu vực vỉa hè trước số B L, phường H, thành phố Hà Nội để tìm mua ma tuý Heroin. Tại đây, T2 và T1 gặp một nam thanh niên không quen biết và mua của anh ta 200.000₫ ma tuý Heroin. T2 đưa tiền cho nam thanh niên thì anh ta đưa lại cho T2 một gói giấy bạc màu trắng kích thước khoảng (1x1,5)cm bên trong chứa chất bột màu trắng. Thao biết đó là ma tuý H1 nên cầm lấy và cất vào trong túi quần đùi phía trước bên trái của T2 đang mặc sau đó cùng đi bộ với T1 đi tìm nơi sử dụng ma tuý. Khi T2 và T1 đi bộ đến khu vực ngã ba N - L, phường H, thành phố Hà Nội thì bị lực lượng công an phường H kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T2 tự dùng tay trái lấy từ trong túi quần đùi phía trước bên trái của T2 đang mặc ra một gói ma tuý H1 mà T2 và T1 vừa mua được lúc trước giao nộp cho lực lượng công an và khai nhận gói ma tuý Heroin này là của T2 và T1 cùng góp tiền mỗi người 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) để mua về cùng sử dụng. Sau đó lực lượng công an đã thu giữ, niêm phong vật chứng tại chỗ, đựa T2 và T1 cùng vật chứng về trụ sở để làm việc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã ra quyết định trưng cầu giám định số C8541 ngày 10 tháng 09 năm 2025 trung cầu giám định số ma túy thu giữ của Là Văn T2 và Lý Văn T1. Tại bản kết luận giám định số 6012/KL-KTHS ngày 19/09/2025 của Phòng PC09 - Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 0,167 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Là Văn T2 và Lý Văn T1 khai nhận như nội dung nêu trên. Lời khai nhận của các bị can phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T1 và T2, tiến hành dẫn giải T1 và T2 đến nơi mua ma túy ở khu vực vỉa hè phía trước số B L, phường H, thành phố Hà Nội nhưng không xác định được người bán ma túy cho T1 và T2, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Qua xét nghiệm, Là Văn T2 và Lý Văn T1 âm tính với ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, Là Văn T2 và Lý Văn T1 đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu hiện có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 31/CT-VKS-HBT ngày 12/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Nội đã truy tố Là Văn Thao và Lý Văn Thê về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Là Văn T2 và Lý Văn T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự (đối với cả hai bị cáo); khoản 2 Điều 179, khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên (đối với bị cáo T2) để tuyên bố bị cáo Là Văn T2 và Lý Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Là Văn T2 từ 24 tháng tù đến 28 tháng tù; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lý Văn T1 từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ ma túy.

Hình phạt bổ sung: Không đề nghị do các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định.

Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở miền núi, vùng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Là Văn T2 và Lý Văn T1 là ông Ông Phan Thanh B – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H phát biểu:

Tôi hoàn toàn nhất trí với tội danh và điều luật mà VKSND khu vực 3 – Hà Nội truy tố đối với bị cáo Là Văn T2 và Lý Văn T1. Về phần hình phạt tôi đề nghị HĐXX xem xét đánh giá thật khách quan tính chất, mức độ hành vi phạm tội.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Là Văn T2, Lý Văn T1 với lý do các bị cáo là người dân tộc Khơ Mú sinh ra và lớn lên ở miền núi, vùng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, do đó nhận thức của các bị cáo còn hạn chế. Gia đình các bị cáo đều được chính quyền địa phương xác nhận là hộ nghèo. Bên cạnh đó các bị cáo đều lần đầu phạm tội, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi vi phạm pháp luật của mình.

Bị cáo Là Văn T2 tại thời điểm bị cáo phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên có nhận thức chưa đúng về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo là người vị thành niên để áp dụng cho bị cáo mức án quy định đối với người chưa thành niên phạm tội.

Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nên đề nghị HĐXX cho các bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Với những tình tiết giảm nhẹ nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS (đối với bị cáo T2, bị cáo T1); Điều 179, Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên (đối với bị cáo T2) để xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn so với mức án của VKS đề nghị.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm luận tội và lời phát biểu bào chữa của Người bào chữa, các bị cáo T2, T1, người đại diện hợp pháp của bị cáo T2 nhất trí với quan điểm bào chữa của Người bào chữa, không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận, khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09/09/2025, tại khu vực ngã ba N - L, phường H, thành phố Hà Nội, Là Văn T2 và Lý Văn T1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,167 gam ma túy loại Heroin với mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an phường H phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Là Văn T2 và Lý Văn T1 có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, tuy các bị cáo là người dân tộc thiểu số nhưng các bị cáo cũng có nhận thức nhất định để biết rằng các loại ma túy là chất gây nghiện được Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vì nghiện ma túy, các bị cáo vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Mặt khác hành vi phạm tội của các bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và các tệ nạn xã hội khác vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo phạm tội lần đầu, quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Là Văn T2 được 16 tuổi 09 tháng 18 ngày thuộc trường hợp người phạm tội từ đủ 16 nhưng dưới 18 tuổi. Do đó khi lượng hình, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Đều 179; khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên để xem xét mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật hình sự quy định.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy được niêm phong trong 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên – Nguyễn Hoàng H2, cán bộ công an phường H – H, đối tượng – Là Văn T2, Lý Văn T1 (theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định lập ngày 10/9/2025 tại trụ sở Công an phường H – TP Hà Nội; Bản kết luận giám định số 6012/KL - KTHS ngày 19/9/2025 của phòng K - Công an thành phố H) hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hà Nội là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành vì vậy cần áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ.

Vật chứng trên đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 3 - Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng số: 2026/KV3-97 GN/THA- CA ngày 25/11/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố H với Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 3 - Hà Nội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo Là Văn T2 và Lý Văn T1 là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn tiền nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (đối với bị cáo T2, Thê); Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên (đối với bị cáo T2).

Tuyên bố: Bị cáo Là Văn T2 và Lý Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Là Văn T2 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt quả tang là ngày 09/9/2025.

Bị cáo Lý Văn T1 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt quả tang là ngày 09/9/2025.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên – Nguyễn Hoàng H2, cán bộ công an phường H – H, đối tượng – Là Văn T2, Lý Văn T1 (theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định lập ngày 10/9/2025 tại trụ sở Công an phường H – TP Hà Nội; Bản kết luận giám định số 6012/KL - KTHS ngày 19/9/2025 của phòng K - Công an thành phố H).

Toàn bộ vật chứng trên đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 3 - Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng số: 2026/KV3-97 GN/THA-CA ngày 25/11/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố H với Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 3 - Hà Nội.

Bị cáo Là Văn T2 và Lý Văn T1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo T2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án/.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND khu vực 3 – Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Phòng THADS KV3 - Hà Nội;
  • - Trại tạm giam số 2 – Công an TP Hà Nội.
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đồng Minh Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 223/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 223/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger