|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2025/HSST Ngày: 22/10/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thùy Phương
Bà Nguyễn Thị Chung
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nụ- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Trương Văn H, sinh năm 1970; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: 73 T, phường H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Trương Văn Á (đã chết) và bà Bùi Thị Đ (đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ con: Chưa có.
- Tiền án: Ngày 30/12/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 38 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 27/3/2025.
- Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- + Ngày 02/11/1988, bị Công an quận H, thành phố Hà Nội xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Hiếp dâm”.
- + Ngày 25/4/1992, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”;
- + Ngày 24/01/1999, bị cáo bị Công an quận H, thành phố Hà Nội bắt Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 20 ngày 20/01/1999 của Ủy ban nhân dân thành phố H;
- + Ngày 08/8/2001, bị cáo bị Công an quận H, thành phố Hà Nội bắt đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 718 ngày 25/7/2001 của Ủy ban nhân dân thành phố H;
- + Ngày 29/01/2004, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- + Ngày 12/01/2006, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- + Ngày 20/9/2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ ngày 06/6/2025, tại đoạn đường X, khu phố V, phường B, thị xã Q (nay là phường B, tỉnh Bắc Ninh), tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra (CSĐT) tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường B bắt quả tang Trương Văn H, sinh năm 1970, HKTT: 73 đường T, phường N, quận H (nay là G T, phường H, thành phố Hà Nội) đang có hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý. Thu giữ tại túi quần bên trái phía trước của Trương Văn H đang mặc gồm: 01 túi nilon màu xanh, bên trong chứa các viên nén màu hồng và màu xanh; 01 gói bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng mở ra bên trong có 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và các viên nén màu hồng (H khai nhận là ma túy), có sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993, HKTT: thôn L, xã N, thị xã Q (nay là tổ dân phố L, phường Đ) tỉnh Bắc Ninh và anh Phan Thế T, sinh năm 1966, HKTT: khu phố V, phường B, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, cố Imei 356568082540556, lắp sim số 0335.933.031 của H và 01 xe ô tô Huyndai Accent màu trắng, biểm kiểm soát 99A - 591.17 của Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993, HKTT: Tổ dân phố L, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh.
Căn cứ vào lời khai của H, ngày 06/6/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Nguyễn Đình H2, sinh năm 1985, HKTT: khu phố A, phường P, thị xã Q (nay là phường Q, tỉnh Bắc Ninh). Quá trình khám xét không thu gì liên quan đến ma túy.
Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B, tại Bản kết luận giám định giám định số 122/KL-KTHS ngày 09/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“Các viên nén hình tròn màu hồng và màu xanh bên trong 01 túi nilon màu xanh có khối lượng là 18,2406 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Methamphetamine.
Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng có khối lượng 5,2818 gam, là ma túy, loại ma túy: Methamphetamine;
Các viên nén màu hồng bên trong 01 túi nilon màu trắng có khối lượng 0,9426 gam, là ma túy, loại ma túy: Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma tuý được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất cấm ma tuý và tiền chất.”
Căn cứ vào lời khai của bị can và chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án xác định:
Trương Văn H là đối tượng nghiện ma tuý, cuối tháng 5/2024, H có quen biết và ở nhờ nhà của Nguyễn Đình H2, sinh năm 1985 tại khu phố A, phường Q, tỉnh Bắc Ninh. Theo H khai nhận, chiều ngày 06/6/2025 tại nhà của H2 ở khu phố A, phường Q, tỉnh Bắc Ninh, H2 có đưa cho H 01 túi nilon màu xanh và 01 gói giấy bạc chứa ma tuý bảo H mang xuống khu vực dốc C, khu phố V, phường B đợi ở đó khi nào có người đến nhận thì giao. H đồng ý và cầm lấy số ma tuý trên để vào túi quần bên trái phía trước đang mặc. Sau đó, H2 gọi điện đặt xe taxi của Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993, HKTT: Khu phố L, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh đến nhà H2 để đón H. Khi H1 lái xe đưa H đến đoạn đường X, khu phố V, phường B, tỉnh Bắc Ninh thì H đi ra khỏi xe và đợi H2 liên lạc để giao ma tuý cho khách. Khi người nhận ma túy chưa đến thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang như trên.
* Xử lý vật chứng:
- Quá trình chở H đi, anh H1 không biết H có mang theo ma tuý trên người và mục đích đi giao ma tuý nên ngày 12/6/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B trả lại anh H1 01 chiếc xe ô tô trên.
* Vật chứng còn lại:
- - Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng K Công an tỉnh B.
- - 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, cố IMEI 356568082540556, lắp sim số 0335.933.031.
Tại Cơ quan CSĐT Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKSQV ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh truy tố Trương Văn H về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h, Khoản 2, Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trương Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được và toàn bộ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm h, Khoản 2, Điều 250 Bộ luật Hình sự; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt Trương Văn H từ 11 năm đến 11 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2025. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, số Imei 356568082540556, tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim số 0335.933.031.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Lời khai nhận tội của bị cáo Trương Văn H tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được:
Hồi 14 giờ ngày 06/6/2025, tại đoạn đường X, khu phố V, phường B, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường B bắt quả tang Trương Văn H có hành vi vận chuyển trái phép 24,465 gam ma túy Methamphetamine. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Trương Văn H phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại điểm h, khoản 2, Điều 250 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, bị cáo đã có hành vi Vận chuyểntrái phép chất ma, túy. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma tuý trên địa bàn. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo H là người có nhân thân xấu, từng 01 lần bị xử lý về hành vi “hiếp dâm”, bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”, 02 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, 03 lần bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Điều này cho thấy bị cáo là người có ý thức coi thường pháp luật, dù đã bị cơ quan pháp luật giáo dục nhiều lần những vẫn tiếp tục phạm tội, không có ý thức sửa chữa.
Về tình tiết tăng nặng: Ngày 30/12/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 38 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 27/3/2025, đến nay chưa được xóa án tích. Do đó bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trương Văn H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt phù hợp đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, khó thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 01 xe ô tô Huyndai Accent màu trắng, biểm kiểm soát 99A - 591.17 của Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993, HKTT: Tổ dân phố L, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chở H đi, anh H1 không biết H có mang theo ma tuý trên người và mục đích đi giao ma tuý nên ngày 12/6/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B trả lại anh H1 01 chiếc xe ô tô trên là phù hợp.
Đối với mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B là vật cấm nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, số Imei 356568082540556, lắp sim số 0335.933.031 là tài sản của bị cáo H, không dùng vào việc phạm tội nhưng do bị cáo không yêu cầu và đề nghị được nhận lại nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Liên quan trong vụ án:
Đối với anh Nguyễn Văn H1 là lái xe taxi chở H đi giao ma túy nhưng anh H1 không biết H có mang theo ma tuý trên người và mục đích đi giao ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là phù hợp.
Đối với Nguyễn Đình H2 là người theo H khai nhận đưa ma túy và gọi xe taxi cho H để đi giao ma túy nhưng hiện nay H2 không có mặt tại địa phương. Cơ quan CSĐT tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết định truy tìm người đối với Nguyễn Đình H2. Do vậy, Cơ quan CSĐT tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định tách hành vi và tài liệu có liên quan đối với Nguyễn Đình H2 để tiếp tục xác minh làm rõ. Khi nào có đủ căn cứ sẽ đề nghị xử lí sau là phù hợp quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý".
Áp dụng điểm h, Khoản 2, Điều 250; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xử phạt: Trương Văn H 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2025.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, số Imei 356568082540556, lắp sim số 0335.933.031.
(Các vật chứng trên theo biên bản giao vật chứng số 51/2025/KV8 ngày 30/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B với Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – Bắc Ninh).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trương Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Xuân Nhân |
Bản án số 22/2025/HSST ngày 22/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH về vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: 22/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn H - Vận chuyển trái phép chất ma túy
