Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày 26-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Giang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lưu Xuân Tiến - Hiệu trưởng trường THCS Nam Cường

  2. Ông Nguyễn Văn Hùng - Chủ tịch hội đồng quản trị Quỹ tín dụng nhân dân Nam Thanh.

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát - Thư ký viên TAND khu vực 9, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Khôi - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở, TAND khu vực 9, tỉnh Ninh Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Triệu Minh T, sinh ngày 04/12/2008; Giới tính: Nam

Nơi thường trú: Xóm Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình (xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ); Trình độ học vấn: 9/12; Đảng, đoàn: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Triệu Văn Đ, sinh năm 1980; con bà Phùng Thị T1, sinh năm 1980; gia đình bị cáo có 03 chị em; bị cáo là con thứ 2; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 18/6/2025, đến ngày 27/6/2025 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh N (có mặt).

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Triệu Văn Đ, sinh năm 1980; bà Phùng Thị T1, sinh năm 1980.

Nơi thường trú: Xóm Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình (xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ) (Có mặt)

* Trợ giúp viên pháp lý nhà nước bào chữa cho bị cáo Triệu Minh T: Bà Trần Thị N - Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm T3, Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (Có mặt).

* Bị hại: Anh Hoàng Vũ Quang H, sinh ngày 11/12/2006

Nơi thường trú: Số A L, phường D, thành phố Hà Nội (Số A L, phường D, quận H, thành phố Hà Nội cũ).

Địa chỉ công ty: Công ty X1 (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Triệu Xuân H1, sinh năm 1966

Nơi thường trú: Xóm S, xã N, tỉnh Ninh Bình (xóm S, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ) (Có mặt).

* Người làm chứng:

  1. Phạm Phúc L, sinh ngày 04/04/2011

    Người đại diện hợp pháp của cháu L: Ông Phạm Ngọc Á, sinh năm 1976; bà Lê Thị X, sinh năm 1976 (bố mẹ đẻ cháu L)

    Nơi thường trú: Xóm Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình (xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ) (Có mặt).

  2. Triệu Văn Đ1, sinh ngày 15/8/2007

    Nơi thường trú: Xóm S, xã N, tỉnh Ninh Bình (xóm S, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ) (Có mặt).

  3. Triệu Quốc H2, sinh ngày 06/6/2009

    Người đại diện hợp pháp của cháu H2: Ông Triệu Xuân H1, sinh năm 1966

    Nơi thường trú: Xóm S, xã N, tỉnh Ninh Bình (xóm S, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ) (Có mặt).

  4. Đặng Gia B, sinh ngày 10/12/2009

    Người đại diện theo pháp luật của cháu B: Ông Đặng Thế S, sinh năm 1983; bà Ngô Thị B1, sinh năm 1987

    Nơi thường trú: Xóm H, xã N, tỉnh Ninh Bình (Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định) (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/6/2025, Triệu Minh T sử dụng facebook “Triệu Tiến” đăng bán thuốc lá điện tử trong nhóm "Podchill NĐ”. Khoảng 17 giờ cùng ngày, anh Hoàng Vũ Quang H sử dụng tài khoản facebook "Hoang Quang H3” liên lạc và thoả thuận mua bán thuốc lá điện tử của T với giá 500.000 đồng, hẹn tối cùng ngày sẽ giao nhận hàng tại khu vực sân thể thao đối diện cổng Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện N (gọi tắt là Trung tâm G), thuộc thôn Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình.

Khoảng 20 giờ ngày 17/6/2025, Đặng Gia B cùng Phạm Phúc L đến nhà Triệu Văn Đ1 chơi game và xem bóng đá, Triệu Minh T gọi điện thoại cho Đặng Gia B, lúc này Đ1 đang ngồi cạnh chiếc điện thoại của B, thấy T gọi nhiều lần nên Đ1 cầm điện thoại lên nghe. T nhờ Đ1 vào nhà đón T ra chơi. Đ1 không đi mà bảo L đi đón T. Sau khi T được L đón ra nhà Đ1, T có hỏi mượn Đông số tài khoản ngân hàng. Đ1 hỏi T “Mày mượn làm gì” thì T nói “Mượn có việc”. Sau đó, Đ1 đồng ý cho T mượn số tài khoản ngân hàng và Đ1 gửi mã QR tài khoản ngân hàng qua tin nhắn Mesenger facebook cho T. T tiếp tục mượn điện thoại của L và nói để đăng nhập tài khoản facebook nhắn tin nói chuyện với bạn gái. L tin tưởng và cho T mượn điện thoại để sử dụng.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, anh Hoàng Vũ Quang H gọi điện bằng ứng dụng facebook cho T thông báo sắp đến điểm hẹn. T hỏi mượn xe mô tô của Đ1, Đ1 đồng ý cho T mượn xe mô tô biển số 29H2-035.86 (là xe của ông Triệu Văn H4, bố đẻ Đ1). T rủ L đi cùng thì L đồng ý, T lái xe mô tô chở L ngồi sau đi ra cổng Trung tâm giáo dục. Trên đường đi, thấy trời tối, nơi gặp nhau ít người qua lại và anh H đi một mình nên T nảy sinh ý định cướp tài sản của anh H, T lái xe mô tô chở L đi đến cổng chùa xóm Đ, xã N thì dừng xe lại và bảo L ngồi ở xe mô tô đợi. T đi vào bụi cây cạnh cổng chùa lấy ra 01 con dao dài, cán dao bên ngoài cuốn băng dính và giấy bóng màu trong suốt, đây là con dao mà T đã nhặt được ở bụi cỏ ở sân thể thao rồi cất đi vì sợ mọi người đá bóng giẫm phải dao. L thấy T cầm dao ra thì L hỏi T “Anh cầm theo dao làm gì?”, T không cho L biết ý định sử dụng dao để mang đi cướp tài sản nên trả lời “Đi có việc”. Sau đó, T để con dao vào khu vực để chân bên phải tiếp giáp với pô xe mô tô rồi điều khiển xe mô tô đi đến đầu cầu gần Trung tâm giáo dục thì T gặp anh H vào khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày. T vẫy tay gọi anh H đi xe mô tô theo sau về phía cổng Trung tâm giáo dục. Đến nơi, anh H và T cùng xuống xe, L thì vẫn ngồi trên xe. H hỏi T “Pod đâu?”. T cầm điện thoại di động đã mượn của L từ trước mở đưa mã QR tài khoản Ngân hàng mà Đ1 gửi cho T và bảo anh H “Cứ chuyển khoản trước đã”. Lúc này, anh H chuyển khoản số tiền 200.000 đồng từ ví điện tử M vào tài khoản ngân hàng mà T đưa. Trong lúc anh H chuyển tiền thì T dùng tay phải rút chìa khóa xe mô tô của anh H đang cắm ở ổ khóa xe. Sau khi anh H chuyển khoản xong, T đi về phía xe mô tô mà L đang ngồi, cầm lấy con dao đã chuẩn bị trước quay lại giơ dao lên trước mặt anh H đe dọa “Đưa nốt 300.000 đồng đây”. Anh H sợ T sẽ dùng dao xâm hại sức khỏe của mình, lúc này trong người anh H có khoảng hơn 400.000 đồng tiền mặt, anh H vội lấy ra số tiền 300.000 đồng (gồm 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) ở trong túi quần và đưa cho T. L nhìn thấy nhưng cũng sợ T nên chỉ đứng xem, không có lời nói hay hành động gì. T cầm lấy số tiền 300.000 đồng rồi đưa lại chìa khóa xe mô tô cho anh H và bảo anh H đi về. Sau đó, T bảo L lái xe mô tô chở về nhà Đ1. Trên đường L chở T về nhà Đ1, T nói với L “Cấm không được nói gì với ai”. T để dao vào khu vực để chân bên phải tiếp giáp với pô xe mô tô và cùng L đi về nhà Đ1. Khi về đến nhà Đ1, T đưa cho B 100.000 đồng nhờ B đi mua nước ngọt về cho mọi người uống. B cầm 100.000 đồng đi mua hết 50.000 đồng, còn lại 50.000 đồng B về đưa lại cho T. Lúc này, T hỏi Đ1 là đã nhận được 200.000 đồng tiền chuyển khoản chưa thì Đ1 trả lời đã nhận được. Đ1 bảo T đưa số tài khoản để Đ1 chuyển lại cho T, nhưng T không có tài khoản ngân hàng. Khi đó, Triệu Quốc H2, sinh năm 2009, là em ruột Đ1 cũng là bạn của T đi từ trong nhà ra, thấy vậy T bảo Đ1 chuyển 200.000 đồng vào tài khoản của H2. Đ1 đồng ý và chuyển tiền sang tài khoản cho H2, sau đó Đ1 vào phòng đi ngủ. T bảo H2 nạp 200.000 đồng vừa nhận được vào tài khoản game trực tuyến cho T. Sau đó, L đi về nhà trước, còn T nhờ B dùng xe mô tô của Đ1 chở T về. Trên đường về, phát hiện có 01 con dao để ở xe, B hỏi T con dao để làm gì thì T bảo lúc nãy đi có việc và nhờ B vứt hộ con dao. Sau khi chở T về nhà, B đã mang con dao ra khu vực sân thể thao xã N để vứt. Số tiền còn lại là 250.000 đồng, T mang về và cất giấu ở ngăn kéo bàn của gia đình.

Ngay sau khi bị cướp tài sản, anh Hoàng Vũ Quang H đã đến Công an xã N tố cáo hành vi của T.

* Vật chứng thu giữ:

  • + 01 chiếc dao bản to một cạnh sắc, đặc điểm: Con dao dài 75cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 48cm, bản rộng nhất 7,5cm, phần tay cầm dao dài 27cm bên ngoài cuốn băng dính và giấy bóng màu trong suốt do Đặng Gia B giao nộp.

  • + 01 điện thoại loại Iphone 6S Plus, số máy NN342LL/A, số seri: F2LZ97YZHFLX, số IMEI: 354952072417748.

  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen, gắn biển số 29H2-035.86 do ông Triệu Xuân H1 giao nộp, đây là vật chứng trong vụ việc trộm cắp tài sản xảy ra tại xã G, thành phố Hà Nội.

  • + Số tiền 250.000 đồng, tiền Ngân hàng N1, do bà Phùng Thị T1 (mẹ đẻ T) giao nộp.

Tại Bản kết luận giám định số 85/KL-KTHS ngày 25/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh N đối với con dao trong vụ án, kết luận: Mẫu vật giám định là mã tấu, thuộc Phụ lục 3 “Danh mục vũ khí thô sơ" Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C.

* Xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 chiếc dao bản to một cạnh sắc, đặc điểm: Con dao dài 75cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 48cm, bản rộng nhất 7,5cm, phần tay cầm dao dài 27cm bên ngoài cuốn băng dính và giấy bóng màu trong suốt do Đặng Gia B giao nộp, đây là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

  • + Đối với 01 điện thoại loại Iphone 6S Plus, số máy NN342LL/A, số seri: F2LZ97YZHFLX, số IMEI: 354952072417748, điện thoại cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Phạm Văn L1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh L1, anh L1 đã nhận lại và không có ý kiến gì.

  • + Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen, gắn biển số 29H2-035.86 do ông Triệu Xuân H1 giao nộp, đây là vật chứng trong vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại xã G, thành phố Hà Nội, Cơ quan điều tra đã tách chiếc mô tô ra để chuyển đến Công an xã G, thành phố Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền.

  • + Đối với số tiền 250.000 đồng, tiền Ngân hàng N1, do bà Phùng Thị T1 (mẹ đẻ T) giao nộp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H, anh H đã nhận lại và không có ý kiến gì.

* Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình bị cáo T tự nguyện giao nộp và bồi thường cho anh H tổng số tiền là 1.000.000 đồng. Sau khi nhận lại tiền anh H không có yêu cầu bồi thường nào khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T.

Cáo trạng số 20/CT-VKS-KV9 ngày 09 tháng 9 năm 2025, VKSND khu vực 9, tỉnh Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Triệu Minh T về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 BLHS.

Tại phiên toà:

  • * Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng. Bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

  • * Đại diện VKSND Khu vực 9 - Ninh Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Triệu Minh T phạm tội “Cướp tài sản”.

1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91; Điều 101 BLHS xử phạt bị cáo Triệu Minh T từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm tù.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. T2 tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc dao bản to một cạnh sắc, đặc điểm: Con dao dài 75cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 48cm, bản rộng nhất 7,5cm, phần tay cầm dao dài 27cm bên ngoài cuốn băng dính và giấy bóng màu trong suốt.

Trách nhiệm dân sự không xem xét.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo có ý kiến: Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nhận thức còn hạn chế, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh và điều luật Viện kiểm sát truy tố. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo là người chưa thành niên, đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả cho người bị hại, ông nội bị cáo tham gia bộ đội và có giấy chứng nhận bệnh binh để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để có cơ hội lao động thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật để trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại. Xét thấy, bị hại đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, do đó sự vắng mặt của họ tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Triệu Minh T tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội trong trường hợp khẩn cấp; biên bản lấy lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; vật chứng thu giữ; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 17 tháng 6 năm 2025, Tại khu vực gần cổng Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện N, thuộc thôn Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình. Triệu Minh T đã dùng dao đe dọa anh Hoàng Vũ Quang H để chiếm đoạt số tiền 500.000 đồng.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Triệu Minh T về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân; làm mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang lo lắng của một bộ phận quần chúng nhân dân sống trên địa bàn. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu rèn luyện và tu dưỡng nên bị cáo cố ý thực hiện tội phạm.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, thể hiện sự coi thường pháp luật, vì vậy cần xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy vậy, khi quyết định hình phạt cũng cũng cần xem xét đến nhân thân bị cáo, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, nên cần áp dụng Điều 91 BLHS.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo Triệu Minh T trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; bị cáo có ông nội tham gia bộ đội và có giấy chứng nhận bệnh binh. Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS, do đó cần áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo Triệu Minh T để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

[6] Về hình phạt:

[6.1] Về hình phạt chính: Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy, cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo T khi thực hiện hành vi phạm tội là 16 tuổi 6 tháng 13 ngày nên HĐXX áp dụng chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để tạo cơ hội cho bị cáo sớm trở về với gia đình và cộng đồng xã hội theo quy định tại Điều 91, khoản 1 Điều 101 BLHS và khoản 5 Điều 12 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024

[6.2] Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 6 Điều 91 BLHS, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. T2 tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc dao bản to một cạnh sắc, đặc điểm: Con dao dài 75cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 48cm, bản rộng nhất 7,5cm, phần tay cầm dao dài 27cm bên ngoài cuốn băng dính và giấy bóng màu trong suốt.

[8] Các biện pháp tư pháp:

  • + Đối với 01 điện thoại loại Iphone 6S Plus, số máy NN342LL/A, số seri: F2LZ97YZHFLX, số IMEI: 354952072417748, điện thoại cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Phạm Văn L1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh L1, anh L1 đã nhận lại và không có ý kiến gì.

  • + Đối với số tiền 250.000 đồng, tiền Ngân hàng N1, do bà Phùng Thị T1 (mẹ đẻ T) giao nộp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H, anh H đã nhận lại và không có ý kiến gì.

  • + Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen, gắn biển số 29H2- 035.86 do ông Triệu Xuân H1 giao nộp, đây là vật chứng trong vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại xã G, thành phố Hà Nội, Cơ quan điều tra đã tách chiếc mô tô ra để chuyển đến Công an xã G, thành phố Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền.

  • + Trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo T tự nguyện giao nộp và bồi thường cho anh H tổng số tiền là 1.000.000 đồng. Sau khi nhận lại tiền anh H không có yêu cầu bồi thường nào khác. Vì vậy, HĐXX không xem xét về trách nhiệm dân sự trong vụ án này.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Triệu Minh T phạm tội “Cướp tài sản”.

  1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt Triệu Minh T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2025.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. T2 tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc dao bản to một cạnh sắc, đặc điểm: Con dao dài 75cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 48cm, bản rộng nhất 7,5cm, phần tay cầm dao dài 27cm bên ngoài cuốn băng dính và giấy bóng màu trong suốt

    (Chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng số 11/PTHADSKV ngày 15 tháng 9 năm 2025 giữa Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9, tỉnh Ninh Bình).

  3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Triệu Minh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND + VKSND tỉnh Ninh Bình;

  • - VKSND khu vực 9;

  • - Phòng THADS Khu vực 9 - Ninh Bình;

  • - UBND xã Nam Ninh, tỉnh Ninh Bình;

  • - Bị cáo;

  • - Lưu: VP, Hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hoàng Giang

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Vũ Hoàng G

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TỈNH NINH BÌNH về cướp tài sản

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Triệu Minh T - Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger