Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 – GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày 24/10/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Định và bà Vũ Thị Hà.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Dàng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Hữu P; sinh ngày 03/3/1992 tại tỉnh Gia Lai. Nơi thường trú: Tổ dân phố H, xã Đ, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện tại: Tổ dân phố H, xã Đ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Thầu xây dựng; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (sinh năm: 1966) và bà Trần Thị N (sinh năm: 1967); gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai, bị cáo có vợ là Lê Thị M (sinh năm 1992), bị cáo chưa có con. Tiền án; tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 19 tháng 9 năm 2025, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 14 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Theo bản án số 128/2025/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk).

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/8/2024, hiện đang giam, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm: 1992.
  2. Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

  3. Ông Trần Đình T1, sinh năm: 1992.
  4. Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/10/2019, Trần Hữu P thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) xây dựng Hữu Phước do P làm Giám đốc, có địa chỉ tại Số A, tỉnh lộ 5, xã C, thành phố B (nay là phường B), tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình hoạt động, do bị thua lỗ nên P nợ tiền của nhiều người. Phát hiện trên địa bàn có Trường Mầm non S tại địa chỉ Số A đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là số A đường N, phường T, tỉnh Đắk Lắk) và có quan hệ quen biết với anh Trần Đình T1 (Sinh năm 1992; trú tại Thôn C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (nay là Thôn C, xã Đ, tỉnh Gia Lai)) nên P đã nảy sinh ý định lừa anh Trần Đình T1 cùng góp vốn xây dựng T2 để nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền này.

Vào ngày 19/12/2020, Trần Hữu P sử dụng tài khoản “Phuoc Tran” liên hệ với anh T1 thông qua ứng dụng tin nhắn M1 và gọi điện cho anh T1 để đề nghị anh T1 cùng P góp vốn thi công công trình xây dựng Trường Mầm non S tại địa chỉ số A đường N, phường T, tỉnh Đắk Lắk nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt của anh T1 số tiền 120.000.000 đồng. Anh T1 đồng ý và hẹn gặp P tại nhà của anh T1 để thống nhất nội dung hợp đồng.

Ngày 21/12/2020, P đến gặp trực tiếp anh T1 và chị Nguyễn Thị Mỹ H (Sinh năm 1992 - vợ anh T1) tại nhà của anh T1 thuộc Thôn C, xã Đ, tỉnh Gia Lai và P đưa ra hình ảnh công trình xây dựng, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty TNHH X để tạo lòng tin với anh T1, chị H. Sau khi trao đổi, thống nhất thì đến ngày 22/12/2020, anh T1, chị H ký hợp đồng góp vốn đề ngày 25/12/2020 (theo thỏa thuận của hai bên) với P với nội dung: Anh T1, chị H góp số tiền vốn 120.000.000 đồng cho công ty của P để thi công công trình sân trường Mầm non S. Theo nội dung hợp đồng cam kết sẽ hoàn trả số tiền gốc kèm theo lợi nhuận 75.000.000 đồng sau 30 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng cho anh T1 và chị H. Vào lúc 09 giờ 27 phút ngày 24/12/2020, chị H đã chuyển số tiền 120.000.000 đồng qua tài khoản Ngân hàng B số 63110000734399 tên “TRAN HUU PHUOC” với nội dung “TRAN DINH TON CTIEN XAY DUNG TRAN HUU PHUOC".

Vào khoảng 11 giờ ngày 24/12/2020, sau khi nhận được số tiền 120.000.000 đồng từ chị H, Trần Hữu P tiếp tục nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt thêm số tiền 120.000.000 đồng nên P tiếp tục đề nghị anh T1 góp thêm vốn với P số tiền 120.000.000 đồng (tổng cộng 240.000.000 đồng). Ngày 27/12/2020, anh T1, chị H ký với P hợp đồng thứ hai bổ sung, thay thế một phần nội dung cho hợp đồng thứ nhất, cụ thể: Anh T1, chị H góp vốn thi công công trình sân trường tại Trường Mầm non S, địa chỉ: Số A đường N, phường T, tỉnh Đắk Lắk với giá trị hợp đồng tổng cộng 240.000.000 đồng, sau 10 ngày kể từ ngày ký hợp đồng P phải trả trước 120.000.000 đồng, số tiền còn lại và số tiền lợi nhuận của anh T1, chị H là 180.000.000 đồng sẽ được hoàn trả sau 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng. Vào lúc 09 giờ 28 phút ngày 29/12/2020, chị H đã chuyển số tiền 120.000.000 đồng cho P nội dung “TRAN DINH TON CTIEN XAY DUNG TRAN HUU PHUOC” (thông qua số tài khoản trên) theo hợp đồng ký ngày 27/12/2020. Sau khi nhận được tiền,

2

Phước cắt liên lạc với anh T1, chị H và sử dụng số tiền 240.000.000 đồng chiếm đoạt được vào việc tiêu xài, trả các khoản nợ cá nhân hết.

Do P không trả tiền theo cam kết, vợ chồng chị H, anh T1 đã liên tục tìm P để yêu cầu trả tiền nên vào ngày 22/01/2021 và ngày 23/01/2021, P đã chuyển khoản ngân hàng trả cho chị H hai lần với tổng số tiền 60.000.000 đồng. Ngày 11/4/2021, sau nhiều lần không đòi được tiền nên chị H làm đơn tố cáo đến Cơ quan điều tra. Trong quá trình Cơ quan điều tra thụ lý giải quyết thì P có chuyển khoản ngân hàng trả cho chị H thêm số tiền 20.000.000 đồng (trong năm 2021).

Ngày 30/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ xác minh tại Trường mầm non “Sai Gòn”, địa chỉ: Số A đường N, phường T, tỉnh Đắk Lắk xác định: Từ khi xây dựng (từ năm 2016 đến thời điểm xác minh) trường mầm non S được thi công bởi Công ty X do ông Nguyễn Đình T3 (Sinh năm 1980) là Phó Giám đốc, ngoài ra trường mầm non S không sửa chữa, thi công sân trường với bất kỳ Công ty xây dựng nào khác.

Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết họ tên số 158/QĐ-CQĐT. Ngày 03/10/2023 giám định đối với chữ ký, chữ viết trên hai Hợp đồng giữa P và anh T1 (ký hiệu A1, A2) với các tài liệu có chữ viết, chữ viết họ tên mà Cơ quan điều tra thu thập được (ký hiệu M1, M2, M3). Kết luận số 892/KL-KTHS ngày 19/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh G kết luận chữ ký, chữ viết họ tên “Trần Hữu P” dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN B” trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với chữ ký, chữ viết của Trần Hữu P trên các mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2, M3) do cùng một người ký và viết ra.

Về vật chứng của vụ án:

  • Đối với 02 Hợp đồng góp vốn thi công công trình ngày 25/12/2020 và ngày 27/12/2020 tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai giữa ông Trần Đình T1 và ông Trần Hữu P. Xét thấy, 02 hợp đồng góp vốn thi công công trình là vật chứng mà Trần Hữu P đã sử dụng để ký kết để tiến hành thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản chuyển kèm hồ sơ để phục vụ cho công tác xét xử.
  • Đối với 01 tờ khai xin cấp lại chứng minh nhân dân số [...] ngày 25/11/2020 của Trần Hữu P do Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an huyện Đ (cũ), tỉnh Gia Lai cung cấp. Xét thấy, tờ khai chứng minh nhân dân không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả cho Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an huyện Đ.
  • Đối với 01 giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH X ngày 04/10/2019 do Phòng đăng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cung cấp. Xét thấy, giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho P1 đăng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS-KV10, ngày 10/7/2025 và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Gia Lai trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 3 Điều

3

174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 07 đến 08 năm tù.

Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử quyết định trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ như các biên bản khám nghiệm hiện trường, các kết luận giám định của cơ quan giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Vì mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác nên từ ngày 24/12/2020 và ngày 29/12/2020 tại thôn C, xã Đ, tỉnh Gia Lai, bị cáo Trần Hữu P đã dùng thủ đoạn đưa ra các thông tin không có thật về dự án thi công công trình xây dựng Trường Mầm non S tại địa chỉ số A đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là số A đường N, phường T, tỉnh Đắk Lắk) để tạo lòng tin, kêu gọi vốn đầu tư và ký 02 hợp đồng giả tạo để chiếm đoạt của anh Trần Đình T1 và chị Nguyễn Thị Mỹ H với tổng số tiền 240.000.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Gia Lai truy tố bị cáo Trần Hữu P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương.

[4] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiến đoạt tài sản, các lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện khắc phục một phần số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm

4

b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

[5] Về nhân thân: Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi đưa ra các thông tin gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra bị cáo còn bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 14 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 128/2025/HS-ST, ngày 19/9/2025. Khi bị phát hiện đã bỏ trốn bị truy nã.

[6] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Nhận thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp, đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo, cũng như phòng ngừa chung đối với xã hội.

[7] Đối với bị hại trong vụ án: Về hành vi phạm tội của bị cáo các bị hại đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật; Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa giữa bị cáo và bị hại xác định bị cáo đã chuyển trả nhiều lần số tiền tổng cộng 109.000.000 đồng. Do đó bị hại đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo Trần Hữu P phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt còn lại là 131.000.000 đồng. Yêu cầu trên của các bị hại là chính đáng, cần buộc bị cáo Trần Hữu P phải trả lại cho bị hại số tiền 131.000.000 đồng.

[8] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng trong vụ án đã được xử lý đúng theo quy định của pháp luật trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
    • Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Hữu P 07 (bảy) năm tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  3. Về xử trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357, Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Trần Hữu P trả cho các bị hại Nguyễn Thị Mỹ H và Trần Đình T1 số tiền 131.000.000 đồng (Một trăm ba mươi mốt triệu đồng).
  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

5

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Hữu P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 6.550.000 đồng (Sáu triệu năm trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (24/10/2025) bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - Công an tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND khu vực 10 - Gia Lai;
  • - Phòng THADS khu vực 10 - Gia Lai
  • (khi án có hiệu lực);
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Tiến

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 24/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - GIA LAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Hữu P phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger