Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - AN GIANG

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29-9-2025

V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Quốc Hội

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Rạng Đông.

Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang.

Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Thanh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 67/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 12 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Ngọc M, sinh năm 1994 (có đơn vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố G, đặc khu P, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Trần T, sinh năm 1990 (vắng mặt lần hai).

Địa chỉ: Khu phố G, đặc khu P, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, bà Lâm Thị Ngọc M trình bày: Vào năm 2013, bà Lâm Thị Ngọc M và ông Nguyễn Trần T tự nguyện tìm hiểu và tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện P, tỉnh Kiên Giang ngày 27/02/2013 (nay là đặc khu P, tỉnh An Giang), theo Giấy chứng nhận kết hôn số 03/2013, quyển 01/2012, ngày 27/02/2013.

Lý do xin ly hôn: Bà M cho rằng mâu thuẫn phát sinh từ việc ông T ăn chơi ngoài xã hội với bạn bè, không lo lắng cho gia đình, vợ chồng thường xuyên cự cãi.

Quá trình chung sống vợ chồng có một người con chung tên Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 20/9/2010.

Bà Lâm Thị Ngọc M yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Trần T.

Về con chung: Bà M xác nhận vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 20/9/2010. Bà M yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông Trung cấp D nuôi dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà M xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà M xác nhận vợ chồng không có nợ ai và không có ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, ông Nguyễn Trần T đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T vắng mặt không có lý do, không ghi nhận được ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà M.

Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa dân sự sơ thẩm. Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng và xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm về thời hạn thụ lý vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn có đơn vắng mặt đã chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai, không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị Ngọc M được ly hôn với ông Nguyễn Trần T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 20/9/2010 cho bà M nuôi dưỡng. Bà M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có, đề nghị miễn xét.

Về nợ chung: Bà M cam kết không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng, đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Lâm Thị Ngọc M có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Nguyễn Trần T đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà Lâm Thị Ngọc M và ông Nguyễn Trần T.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Ngọc M, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Nguyễn Trần T có địa chỉ cư trú tại tổ C, khu phố G, đặc khu P, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang.

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Lâm Thị Ngọc M và ông Nguyễn Trần Trung T2 tìm hiểu yêu thương nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện P, tỉnh Kiên Giang ngày 27/02/2013 (nay là đặc khu P, tỉnh An Giang), theo Giấy chứng nhận kết hôn số 03/2013, quyển 01/2012, ngày 27/02/2013, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà M: Quá trình tố tụng, bà M cho rằng mâu thuẫn phát sinh từ việc ông T ăn chơi ngoài xã hội với bạn bè, không lo lắng cho gia đình, vợ chồng thường xuyên cự cãi. Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau ... Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thủ tục tố tụng về phiên hòa giải và xét xử vụ án cho ông T nhưng ông T vắng mặt, không có lý do, không tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành, thể hiện ý thức không quan tâm, không muốn vợ chồng đoàn tụ. Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân của bà M và ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong phần nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của bà M được ly hôn với ông T.

[4] Về con chung:

Xét yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà M xác nhận vợ chồng có một người con chung tên Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 20/9/2010, hiện nay do bà M đang nuôi dưỡng. Bà M yêu cầu được nuôi con, ông Đ không ý kiến về nuôi con của bà M. Tại Bản trình bày nguyện vọng của cháu T1 thể hiện nguyện vọng muốn được sống với bà M. Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu nuôi con của bà M là phù hợp quy định pháp luật. Giao hai cháu T1 cho bà M nuôi dưỡng đến trưởng thành đủ 18 tuổi. Bà M không yêu cầu ông Trung cấp D nuôi con, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung:

Bà M xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp về tài sản chung thì có quyền khởi kiện vụ án khác.

[6] Về nợ chung:

Bà M xác nhận không có nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí:

Bà M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các khoản 1 Điều 28; Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 267; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Điều 19; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Ngọc M được ly hôn với ông Nguyễn Trần T.
  2. Về con chung: Giao cho bà Lâm Thị Ngọc M tiếp tục nuôi dưỡng người con tên Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 20/9/2010 đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Bà M không yêu cầu cấp dưỡng, Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về tài sản chung: Bà Lâm Thị Ngọc M xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp về tài sản chung thì có quyền khởi kiện vụ án khác.
  4. Về nợ chung: Bà Lâm Thị Ngọc M xác nhận không có nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Bà Lâm Thị Ngọc M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Bà M đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0012695 ngày 12/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – An Giang). Khấu trừ tiền án phí, bà M không phải nộp thêm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bà Lâm Thị Ngọc M và ông Nguyễn Trần T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND kv2 – An Giang;
  • - Phòng THADS kv2 – An Giang;
  • - UBND đặc khu Phú Quốc;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Quốc Hội

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger