TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 218/2025/DS-PT Ngày 23/10/2025 “V/v: Tranh chấp hợp đồng góp vốn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Vũ
Ông Trần Đình Chi
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 10 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 106/2025/TLPT-DS, ngày 19 tháng 8 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng góp vốn”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 78/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 9 năm 2025. Giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Nơi thường trú: TDP M, xã B, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lương Tuấn A, sinh năm 1994 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số I, P, quận H, TP Hà Nội (cũ).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Hoàng Văn H - Luật sư, Công ty L (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, H, phường N, quận B, TP Hà Nội (cũ).
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1984 (có mặt).
Địa chỉ: Khu Q, phường V, tỉnh Phú Thọ.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn là anh Nguyễn Xuân T trình bày:
Năm 2019 anh Nguyễn Xuân T có góp vốn với chị Nguyễn Thị Mỹ N để mua đất của bà Đinh Thị Thu H1 theo GCNQSDĐ số HO6576, thửa đất số 206, tờ bản đồ số 17, diện tích 4.345,8m². Địa chỉ khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (cũ) và xây dựng Trung tâm Đ1, khi đó chị N làm Giám đốc Công ty cổ phần X. Hai bên làm hợp đồng góp vốn, trong đó có nội dung: Trường hợp muốn rút tiền đã góp và thời gian tham gia góp tiền chưa đủ 12 tháng thì các bên thống nhất trả lại số tiền bằng tiền đã góp ban đầu cộng lãi suất tiền vay tính theo Ngân hàng N1 quy định, trên 12 tháng thì tính theo giá trị thị trường, độc lập, minh bạch không phụ thuộc cá nhân nào. Anh T đã chuyển tiền góp vốn cho chị N theo hình thức chuyển khoản và tiền mặt cụ thể:
Ngày 16/5/2019 số tiền 550.000.000đ (Năm trăm năm mươi triệu đồng) để mua đất; Ngày 16/5/2019 số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) để san lấp mặt bằng; Ngày 29/6/2019 số tiền 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng) để xây dựng nhà xưởng; Ngày 10/9/2019 số tiền 65.000.000₫ (Sáu mươi lăm triệu đồng) để mua thiết bị đăng kiểm xe; Ngày 16/9/2019 số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) để mua thiết bị đăng kiểm xe; Ngày 17/9/2019 số tiền 85.000.000₫ (T1 mươi lăm triệu đồng) để mua thiết bị đăng kiểm xe; Ngày 07/10/2019 số tiền 80.000.000₫ (Năm mươi triệu đồng) để ký quỹ; Ngày 23/10/2019 số tiền 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng) để xây dựng nhà xưởng; Ngày 09/12/2019 số tiền 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng) để xây dựng nhà xưởng; Ngày 13/12/2019 số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) để mua thiết bị đăng kiểm xe; Tháng 5/2020 số tiền 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu triệu đồng) để hoàn thiện Trung tâm đăng kiểm xe. Tổng số tiền anh T đã chuyển cho chị N để mua đất và xây dựng Trung tâm Đ1 là 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng). Trung tâm Đ1 đi vào hoạt động từ tháng 3/2020, chị N trực tiếp điều hành mọi hoạt động của Công ty Đ1, nhưng chị N không công khai minh bạch rõ ràng trong các khoản tài chính, vi phạm các kết nối và anh không được bổ sung danh sách cổ đông trong Công ty cổ phần X, anh đã yêu cầu chị N trả lại cho anh toàn bộ số tiền 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) mà anh đã chuyển cho chị N. Ngày 5/11/2020 chị N đã trả cho anh số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng); Ngày 25/11/2020 chị N đã trả cho anh số tiền 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng) bằng giấy xác nhận của anh T; Ngày 23/6/2021 chị N đã trả cho anh số tiền 500.000.000₫ (Năm trăm triệu đồng) bằng giấy biên nhận của anh T. Tổng số tiền chị N đã trả cho anh 1.250.000.000đ (Một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng). Số tiền còn lại 750.000.000 đồng chị N không trả, anh đòi nhiều lần nhưng chị N vẫn không trả. Ngày 24/9/2022 anh làm đơn tố cáo chị N chiếm đoạt số tiền trên, Công an huyện T (cũ) đã xác minh và có thông báo số 06/TB-CQĐT ngày 27/9/2022 xác định đây là tranh chấp dân sự và hướng dẫn anh khởi kiện vụ án dân sự. Anh T đã rút đơn tố cáo chị N và khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn (cũ) đề nghị giải quyết. Tòa án thụ lý vụ án, đang trong quá trình giải quyết anh T và chị N muốn tự giải quyết, nên anh T đã rút toàn bộ đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn (cũ) đã quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Sau khi rút đơn chị N không trả lại số tiền trên cho anh. Nay anh đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị N trả cho anh số tiền 750.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 24/6/2021 đến ngày 24/10/2024 mức lãi suất tính 10%/năm là 250.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc + tiền lãi là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng).
2
2. Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn là chị Nguyễn Thị Mỹ N trình bày:
Anh T khởi kiện chị về việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng góp vốn đã được Tòa án giải quyết theo quyết định số 20/2022/QĐDS-ST ngày 07/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn (cũ). Chị và anh T đã được giải quyết dứt điểm, hai bên không còn vướng mắc hay tranh chấp gì. Hiện tại đã hết thời hạn khiếu nại vụ việc trên. Ngày 06/12/2022 anh T ký bản cam kết chấm dứt mọi quyền lợi và các nghĩa vụ tài chính. Trong đó anh T cam kết đã nhận đủ mọi quyền lợi cá nhân của mình, đã cam kết chấm dứt các chế độ tài chính và các nghĩa vụ liên quan đến chị Nguyễn Thị Mỹ N và Công ty cổ phần X. Ngày 09/12/2022 anh Nguyễn Xuân T có giấy xác nhận về việc chấm dứt mọi quyền lợi, nghĩa vụ với Công ty cổ phần X và chị Nguyễn Thị Mỹ N. Ngày 01/12/2024 chị nhận được thông báo của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn (cũ) về việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng góp vốn giữa chị với anh T, vẫn nội dung này đã được giải quyết theo quyết định số 20/2022/QĐDS-ST ngày 07/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn (cũ) đã có hiệu lực, nên chị có đơn đề nghị Tòa án không triệu tập chị vì vụ việc đã được thụ lý giải quyết năm 2022 và không có tình tiết mới. Chị và anh T không còn liên quan gì đến quyền lợi và góp vốn của anh T với cá nhân chị và Công ty cổ phần X. Chị không giữ chức vụ gì của Công ty cổ phần X.
3. Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ, quyết định:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 BLTTDS năm 2015.
Căn cứ: Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 385 - Bộ luật Dân sự năm 2015.
1. Tuyên Xử: Bác đơn khởi kiện của anh Nguyễn Xuân T về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị Mỹ N trả cho anh số tiền gốc + Tiền lãi là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng). Trong đó tiền gốc là 750.000.000₫ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng) tiền lãi là 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Theo hợp đồng góp vốn lập năm 2019.
Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo đúng quy định pháp luật.
4. Nội dung kháng cáo:
Ngày 08/7/2025, nguyên đơn là anh Nguyễn Xuân T kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ. Đề nghị: Sửa bản án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
3
5. Quan điểm của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là anh Nguyễn Văn Đ trình bày: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
6. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự đối với phiên tòa phúc thẩm.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Xuân T.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Xuân T phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn là anh Nguyễn Xuân T nộp đơn kháng cáo đúng thời hạn, nội dung kháng cáo hợp lệ nên được thụ lý để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Xét nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Xuân T đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện của anh. Thấy rằng:
[2.1] Anh T và chị N đều thỏa thuận tại hợp đồng góp vốn (BL19) có nội dung mua diện tích 4.345,8m² đất tại khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (cũ) để xây dựng Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới X1. Tại bảng kê tiền góp vốn theo từng đợt (trang 3 của Hợp đồng góp vốn, BL18) có thể hiện 11 lần anh T góp vốn, bắt đầu từ ngày 16/5/2019 đến tháng 5/2020. Cụ thể: Lần 1 (ngày 16/5/2019) mua đất là 550.000.000 đồng, lần 2 (cùng ngày 16/5/2019) san lấp mặt bằng là 50.000.000 đồng, lần 3 (ngày 29/6/2019) xây dựng nhà xưởng là 250.000.000 đồng. Tổng cộng 3 lần là 850.000.000 đồng, có thể hiện chữ ký người góp tiền là anh T và có xác nhận của người nhận tiền là chị N. Kể từ lần 4 (ngày 10/9) đến lần thứ 11 (tháng 5/2020) là 8 lần với tổng số tiền là 1.150.000.000 đồng thì người góp tiền là anh T không ký tên tại cột người góp tiền, nhưng tại cột người nhận tiền là chị N đã ký nhận đầy đủ. Như vậy chị N đã xác nhận anh T đã chuyển khoản và đưa tiền mặt cho chị N góp vốn tổng số tiền 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng).
4
[2.2] Bản án sơ thẩm nhận định trong các lần giao nhận, tiền đều có chữ ký của anh T và chị N là thiếu chính xác vì tài liệu gốc không thể hiện, do vậy cần rút kinh nghiệm. Bởi vì anh T chỉ có 3 chữ ký trong bảng kê tiền góp vốn theo từng đợt, nhưng quá trình góp vốn để thực hiện xây dựng Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới XCG 19-05D, chị N đã ký nhận tiền tất cả 11 lần và được giao cho mỗi bên 1 bản giữ làm chứng cứ, điều đó khẳng định chị N đã nhận đủ số tiền góp vốn của anh T với số tiền 2.000.000.000 đồng, vì khi nhận được bản án sơ thẩm thì chị N không có ý kiến gì. Tài liệu chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp là sổ phụ do Ngân hàng N2 - Chi nhánh C, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh đã chứng minh 18 mã chuyển tiền vào tài khoản do chị N làm chủ với tổng số tiền là 800.000.000 đồng, như vậy số tiền còn lại là 1.200.000.000 đồng anh T đã giao tiền mặt cho chị N nhận.
[2.3] Anh T xác nhận chị N đã trả cho anh 2 lần (BL121 ngày 23/6/2021 = 500.000.000₫, BL122 ngày 05/11/2020 = 750.000.000đ) với tổng số tiền là 1.250.000.000 đồng, do anh Nguyễn Văn Đ là chồng chị N cung cấp chứng cứ bản gốc là chị N đã trả tiền. Như vậy số tiền còn lại anh T cho rằng chị N chưa trả, các bên đang tranh chấp là 750.000.000 đồng. Năm 2022 anh T có đơn tố cáo chị Nguyễn Thị Mỹ N đến Công an huyện T về việc chị N chiếm đoạt của anh số tiền 750.000.000 đồng. Cơ quan điều tra Công an huyện T đã có thông báo số 36/TB-CQĐT ngày 27/9/2022 về việc xác minh đơn tố giác tội phạm và gửi cho anh T biết đây là tranh chấp dân sự, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Công an. Sau đó anh T khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn giải quyết yêu cầu chị N trả cho anh số tiền 750.000.000 đồng, quá trình đang giải quyết vụ án thì anh T rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, Tòa án đã Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 20/2022/QĐST-DS ngày 07/12/2022 về việc tranh chấp hợp đồng góp vốn giữa anh Nguyễn Xuân T và chị Nguyễn Thị Mỹ N.
[2.4] Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét chứng cứ là bản cam kết (bản gốc BL124) ngày 06/12/2022 về việc anh T cam kết có nội dung: Kể từ ngày hôm nay tôi không còn liên quan gì đến bà Nguyễn Thị Mỹ N và Công ty cổ phần X, Trung tâm đăng đăng kiểm xe cơ giới 19-05D, tôi đã nhận đủ mọi chế độ và quyền lợi cá nhân của mình, tôi không thắc mắc gì về tài chính và các nghĩa vụ liên quan, kể từ hôm nay tôi không còn khiếu nại gì đến bà Nguyễn Thị Mỹ N và Công ty cổ phần X, Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 19-05D, tôi sẽ rút toàn bộ số đơn tố cáo bà Nguyễn Thị Mỹ N và công ty cổ phần X.
[2.5] Đến ngày 09/12/2022 anh Nguyễn Xuân T có giấy xác nhận về việc chấm dứt mọi quyền lợi, nghĩa vụ với Công ty cổ phần X (BL47) thể hiện nội dung: Tôi đã nhận đầy đủ mọi chế độ và quyền lợi cá nhân của mình. Tôi không có thắc mắc gì về tài chính và các nghĩa vụ khác. Các chế độ của tôi đã được thanh toán đầy đủ và giải quyết thỏa đáng. Kể từ ngày hôm nay, tôi không còn gì liên quan đến Công ty, Trung tâm nêu trên và bà N. Mọi việc làm của tôi là hoàn toàn tự nguyện, tôi không còn vướng mắc bất cứ một điều gì.....Tôi làm giấy xác nhận này trong tình trạng sức khỏe hoàn toàn tỉnh táo. Tôi có đủ năng lực hành vi dân sự tại thời điểm ký kết văn bản này. Tôi không bị lừa dối, ép buộc dưới bất kỳ hình thức nào.
5
[3] Như vậy việc anh T đã ký bản cam kết ngày 06/12/2022 và đến ngày 09/12/2022 anh T đã ký giấy xác nhận thể hiện nội dung chính là không có thắc mắc gì về tài chính và các nghĩa vụ khác và anh T không bị lừa dối, ép buộc ký, xác nhận ở 2 thời điểm khác nhau, cùng ngày 09/12/2022 anh T cũng đã ký đơn xin rút tố cáo chị N gửi Công an, Tòa án, Văn phòng L1 và báo về việc cho rằng chị N đã chiếm đoạt tiền của anh. Điều đó chứng minh giữa chị N và anh T đã thanh toán với nhau xong về tài chính, chị N không còn nợ anh T khoản tiền nào khác.
[4] Từ những lập luận nêu trên thấy rằng yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Xuân T là không có căn cứ chấp nhận. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự cung cấp bản chính các giấy tờ liên quan chứng minh cho yêu cầu của mình là thiếu sót. Do vậy cần rút kinh nghiệm với cấp sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của anh Nguyễn Xuân T không được chấp nhận nên phải chịu.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa là phù hợp, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Xuân T.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Xuân T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận anh T đã nộp 300.000 đồng (anh Lương Tuấn A nộp thay) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000863 ngày 25/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Anh T đã nộp đủ án phí.
Phần quyết định của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm hết kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
6
Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 7 - Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Tuấn Anh |
7
Bản án số 218/2025/DS-PT ngày 23/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng góp vốn
- Số bản án: 218/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp vốn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Thọ - Nguyễn Thị Mỹ Ngân
