Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 216/2025/DS-PT

Ngày: 25/12/2025

V/v tranh chấp thừa kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị An

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Hồng Phương và bà Lý Thị Thuý

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuý Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 116/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 10 năm 2025 về "Tranh chấp thừa kế” do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 173/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân P, sinh năm 1964 (có mặt)

HKTT: Xóm B, phường L. tỉnh Thái Nguyên

- Người đại diện theo uỷ quyền của ông P: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ F, phường P, tỉnh Thái Nguyên

+ Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1954 (vắng mặt)

HKTT: Xóm B, phường L, tỉnh Thái Nguyên

- Người đại diện theo uỷ quyền của ông H: Chị Nguyễn Thùy D, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Tổ dân phố số I, phường T, tỉnh Thái Nguyên

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959 (có mặt)
  2. Ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1956 (có mặt)
  3. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1958 (có mặt)
  4. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1962 (có mặt)
  5. Bà Nguyễn Kim H2, sinh năm 1954 (vắng mặt)
  6. - Người đại diện theo uỷ quyền của bà H2: Chị Nguyễn Thùy D, sinh năm 1982 (có mặt)

    Địa chỉ: Tổ dân phố số I, phường T, tỉnh Thái Nguyên

  7. Bà Chu Thị Thanh B, sinh năm 1967 (có mặt)
  8. Đều có địa chỉ: Xóm Bến Đò, phường Linh Sơn, tỉnh Thái Nguyên

  9. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1972 ( có mặt)
  10. Địa chỉ: Xóm T, phường L, tỉnh Thái Nguyên

  11. Sở Nông nghiệp và môi trường tỉnh T:
  12. - Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trịnh Văn T2 – Chức vụ: Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh T (có đơn xin xét xử vắng mặt)

  13. Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh Thái Nguyên
  14. - Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nghiêm Xuân Q – Chức vụ: Trưởng phòng Kinh tế hạ tầng và Đô thị (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Nguyễn Xuân P trình bày:

Cụ Nguyễn Xuân T3 chết năm 2008 và cụ Diệp Thị H3 chết năm 1992, hai cụ kết hôn và sinh được 9 người con, có 2 người con chết từ khi còn nhỏ, còn 7 người con gồm: Ông Nguyễn Xuân H, ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Xuân T1, ông Nguyễn Xuân P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị S. Tài sản của hai cụ gồm có 1 nhà xây cấp 4 và 1014m² đất thổ cư thửa 1563 tờ bản đồ số 12; thửa số 9, thửa số 10 tờ bản đồ số 17 (đất ruộng) tại xóm B, xã L, nay là phường L, tỉnh Thái nguyên. Sau khi cụ H3 chết, năm 1999, cụ T3 làm thủ tục tặng cho bà L 150m² đất ở, tách ra thành thửa 1682, cho ông P 360m² đất ở, tách thành thửa 1683 (ông P và bà L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999). Tài sản còn lại của cụ H3 là 504m², trong đó có 400m² đất thổ cư và 104m² đất vườn hiện nay ông H đang quản lý. Sau khi cụ T3 chết, anh em không thống nhất được nên phát sinh tranh chấp, do vậy ông P khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật và đề nghị Toà án xác định thửa 1563 TBĐ số 12 diện tích 504m² là di sản thừa kế của cụ H3, đề nghị chia di sản thừa kế theo pháp luật, đề nghị Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở T cấp ngày 17/9/2020 mang tên ông H, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà L và ông P do cấp sai vị trí. Nếu trường hợp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 3 anh em (ông H, ông P, bà L) không đúng, đề nghị Toà án chia thừa kế toàn bộ đất thổ cư của hai cụ và thửa số 9, và thửa số 10 đất ruộng theo pháp luật.

Bị đơn ông H trình bày:

Về mối quan hệ gia đình và thời điểm cụ H3 và cụ T3 chết như nguyên đơn trình bày là đúng. Về tài sản của cụ T3 và cụ H3 có các tài sản sau: 1 nhà xây cấp 4, công trình phụ trên đất thổ cư diện tích 1014m² thửa số 1563 tờ bản đồ số 12 xã L, thửa số 9 và thửa số 10 tờ bản đồ số 17 là đất ruộng, ngoài ra không có tài sản nào khác. Khi mẹ ông chết, bố ông quản lý sử dụng toàn bộ, đến năm 1999 bố ông chia cho 3 người con gồm ông 400m² đất ở và 104m² đất liền kề, ông P 360m² đất ở được tách thành thửa 1683, bà L 150m² đất ở được tách thành thửa 1682. Như vậy, bố ông đã chia hết cho 3 con, không còn tài sản nào nữa. Cả 3 anh em ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong quá trình sử dụng, anh em ông đã thống nhất đổi đất cho nhau sử dụng cho thẳng và có đường đi như hiện hiện nay. Đến nay ông P khởi kiện chia di sản thừa kế, ông không nhất trí vì ông đã có sổ đỏ. Nếu phải chia phần đất của ông thì ông đề nghị chia theo pháp luật thửa đất (cũ) là thửa số 1563 diện tích 1014m² tờ bản đồ 12, thửa số 9, thửa số 10 tờ bản đồ số 17.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn H1 trình bày:

Về quan hệ gia đình, về đất đai, tài sản của bố mẹ ông như nguyên đơn trình bày là đúng. Về tài sản có 1 nhà xây cấp 4, đất thổ cư và 2 thửa đất ruộng, ngoài ra không có tài sản nào khác. Sau khi cụ T3 chết, ông P là người sử dụng trực tiếp nhưng tạm thời giao cho ông H quản lý phần tài sản là nhà cấp 4 trên phần đất thổ cư, ông đề nghị chia thửa đất 1563 diện tích 504m² mang tên ông H và thửa số 10, thửa số 9 tờ bản đồ số 17 theo quy định của pháp luật. Ông đề nghị chia làm 7 phần cho anh em ông. Nều trường hợp phải chia diện tích đất của ông P và bà L đang sử dụng, đề nghị Toà án chia cho ông kỷ phần thừa kế theo pháp luật.

Ông Nguyễn Xuân T1 trình bày:

Ông đề nghị được chia di sản thừa kế và được hưởng kỷ phần thừa kế theo pháp luật.

Bà Nguyễn Thị L1 trình bày:

Đề nghị chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa 1563 diện tích 1014m² tờ bản đồ 12 và thửa số 9, thửa số 10 tờ bản đồ số 17 theo pháp luật, đề nghị Toà án chia cho bà phần di sản thừa kế theo pháp luật.

Bà Nguyễn Thị L trình bày:

Đề nghị được chia thừa kế theo pháp luật và được chia vào phần diện tích hiện nay đang ở.

Bà Nguyễn Kim H2 ( vợ ông H) trình bày:

Bà có công sức sửa chữa duy trì phát triển tài sản, nên khi chia thừa kế đề nghị xem xét công sức của bà theo pháp luật từ năm 2007 cho đến nay.

Bà Chu Thị Thanh B (vợ ông P) trình bày:

Đề nghị xem xét công sức về làm dâu ở chung cùng gia đình từ năm 1994 cho đến nay, đề nghị Toà án xử theo pháp luật.

Người đại diện theo uỷ quyền của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T trình bày:

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Người đại diện theo uỷ quyền của Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh Thái Nguyên trình bày:

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện theo pháp luật.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả định giá của Hội đồng định giá cấp sơ thẩm thể hiện:

Hiện trạng thửa 1563, 1682,1683 diện tích là 953,4m² (đã trừ đường đi 21,4m²). Trong đó ông H sử dụng 276,8m², ông P sử dụng 119,4m², bà L sử dụng 204m², đất của cụ T3 còn lại là 353,2m².

Về đất ruộng thửa số 9 ông H sử dụng 64,4m², bà L sử dụng 61,2m², ông P sử dụng 63,7m².

Thửa số 10, ông H sử dụng 68,5m², bà L sử dụng 61,4m², ông P sử dụng 151,7m².

Kết quả định giá như sau:

Đất thổ cư thửa 1563, 1682, 1683 có tổng diện tích 953,4m² x 1.400.000đ/m² = 1.334.760.000₫

Thửa số 9 (đất lúa) diện tích 189.3m² x 78.000đ/m² = 14.765.400₫

Thửa số 10 ( lúa) diện tích 281.6m² x 78.000đ/m² = 21.964.800₫

Nhà xây cấp 4, bếp và công trình phụ giá trị 88.652.640 đồng.

Tổng cộng giá trị tài sản tranh chấp là 1.460.142.840₫

Với nội dung nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 06/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:

Áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 649, Điều 650 Điều 651 Điều 660 Bộ luật dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Nguyễn Xuân P.

Tuyên xử:

  1. Giao cho ông H sử dụng 242,6m² đất ở thửa 1563 TBĐ12 theo các điểm 13, 14, 12', 11', 56, 57, 58, 10', 9', 8', 39, 40, 50, 49, 48, 47, 46, 13 (có sơ đồ kèm theo), 8,8m² thửa 1683 theo các điểm 58,59,60,61,10',58 ( có sơ đồ kèm theo), 25,4m² thửa 1683 TBĐ 12 theo các điểm 53,54,55,56,11',53 (có sơ đồ kèm theo), 64.4m² đất lúa thửa số 9 TBĐ 17 theo các điểm 11', 12', 24', 25', 26', 51, 52, 53,11' (có sơ đồ kèm theo), 68.5m² đất lúa thửa số 10 TBĐ 17 theo các điểm 19, 20, 21, 51, 26', 25', 30', 19 ( có sơ đồ kèm theo). Tổng giá trị tài sản được giao là 397.886.200đ.; ông H được giao hai kỷ phần trong đó 1 kỷ phần công sức là 146.014.284đồng giao cho ông H và bà H2 sử dụng và 1 kỷ phần thừa kế ông H được chia là 146.014.284đồng. Tổng hai kỷ phần là 292.028.568đ . Buộc ông H phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị L1 105..857.632 đồng.
  2. Giao cho ông P 1 nhà xây cấp 4, 01 nhà bếp xây cấp 4, tường rào và công trình phụ và được quyền sử dụng 142,5m² đất ở thửa 1682 TBĐ 12 theo các điểm 1', 2, 3, 4, 2', 7, 8, 4', 5', 1' (có sơ đồ kèm theo); 210,7m² đất ở thửa 1563 TBĐ 12 theo các điểm 4', 10, 11, 12, 47, 48, 49, 50, 40, 41, 6', 5', 4' (có sơ đồ kèm theo), tổng là 353,2m² ( có ngôi nhà của cụ T3), 119,4m² đất ở đang sử dụng thửa số 1683 TBĐ 12 theo các điểm 63, 15', 16', 17', 18', 34, 35, 66, 65, 64, 63 (có sơ đồ kèm theo); 63,7m² đất ruộng thửa số 9 TBĐ 17 theo sơ đồ 62, 23', 15', 63, 62 (có sơ đồ kèm theo), 151,7m² đất ruộng thửa số 10 TBĐ 17 theo các điểm 22, 23, 24, 25, 23', 62, 22 ( có sơ đồ kèm theo). Ông P được hai kỷ phần, trong đó 1 kỷ phần công sức là 146.014.284 đồng giao cho ông P và bà B sử dụng và 1 kỷ phần thừa kế là 146.014.284 đồng; tổng hai kỷ phần là 292.028.568 đồng. Tổng tài sản giao cho ông P có giá trị là 767.093.840 đồng. Buộc ông P thanh toán cho ông H1 146.014.284 đồng, thanh toán cho ông T1 146.014.284 đồng, thanh toán cho bà S 146.014.284 đồng, thanh toán cho bà L1 37.022.420 đồng
  3. Giao cho bà L sử dụng 204m² đất ở trong đó có 0,2m² đất ở thửa số 1563 TBĐ 12 theo các điểm 56, 57, 58, 56 (có sơ đồ kèm theo) và 203,8m² đất ở thửa 1683 TBĐ 12 theo các điểm 53, 63, 64, 65, 66, 35, 36, 37, 61, 60, 59, 58, 56, 55, 54, 53 (có sơ đồ kèm theo) và 122,6m² đất lúa trong đó có 61,2m² đất lúa thửa số 9 TBĐ 17 theo các điểm 62, 63, 53, 52, 51, 27, 62 (có sơ đồ kèm theo) và 61,4m² ruộng thửa số 10 TBĐ 17 theo các điểm 51, 21, 22, 62, 27', 51 (có sơ đồ kèm theo). Bà L được hai kỷ phần trong đó 1 kỷ phần thừa kế là 1 46.014.284 đồng và 1 kỷ phần công sức 146.014.284 đồng, tổng hai kỷ phần là 292.028.568đ,. Giá trị tài sản được giao là 295.162.800 đồng. Buộc bà L phải thanh toán trả bà Nguyễn Thị L1 là 3.134.232đ.
  4. Giao cho ông H1 được quyền sở hữu 146.014.284 đồng do ông P thanh toán
  5. Giao cho ông T1 được quyền sở hữu 146.014.284 đồng, do ông P thanh toán
  6. Giao cho bà S được quyền sở hữu 146.014.284 đồng do ông P Thanh toán.
  7. Giao cho bà L1 được quyền sở hữu 105..857.632 do ông H thanh toán; 3.134.232 đồng do bà L thanh toán; 37.022.420 đồng do ông P thanh toán

Xác định 21,4 m² theo các điểm 12, 67, 14, 13, 46, 47,12 (có sơ đồ kèm theo) là đường đi chung.

Đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉnh lý lại biến động về đất đai cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, việc thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Xuân H kháng cáo toàn bộ bản án vì các lý do: Ông và ông P, bà L đã được cấp Giấy chứng nhận QSD đất theo đúng quy định, không còn di sản để chia nữa, toà án cấp sơ thẩm chia thừa kế các phần đất này là không đúng, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của ông; bản án nhận định ông Hòa đồng Ý chia thừa kế là sai với ý chí của ông H, chưa xem xét các tài liệu, chứng cứ do ông H cung cấp; Toà án đo đạc theo chỉ dẫn của ông P để xác định hiện trạng đất cụ T3 còn lại 353m² là không đúng. Ông H đề nghị huỷ án sơ thẩm, công nhận cho ông có quyền sử dụng đất hợp pháp đối với toàn bộ diện tích mà ông đã được cấp Giấy chứng nhận QSD.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự và người đại diện hợp pháp của các đương sự đã thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Về án phí: Các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả hoà giải tại phiên tòa; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Bị đơn ông Nguyễn Xuân H kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về sự vắng mặt của người đại diện theo uỷ quyền của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T và UBND phường L, những người này đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên và UBND phường L.

[2]. Về nội dung:

Nguyên đơn ông Nguyễn Xuân P khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ là cụ Nguyễn Xuân T3 và cụ Diệp Thị H3 để lại gồm thửa đất số 1563 TBĐ số 12 diện tích 504m², thửa số 9 và thửa số 10 đất nông nghiệp. Nguyên đơn đề nghị, trường hợp thửa đất 1682 đất ở của bà Nguyễn Thị L và thửa 1683 đất ở của ông P được cấp không đúng thì đề nghị gộp vào cùng thửa 1563 và 02 thửa đất ruộng để chia thừa kế theo quy định của pháp luật cho tất cả những người thuộc hàng thừa kế thứa nhất của cụ T3 và cụ H3 gồm 7 người con (ông H, ông H1, ông T1, ông P, bà L, bà L1, bà S); đề nghị huỷ Giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho ông H đối với thửa 1563 và điều chỉnh GCNQSD đất đã cấp cho ông P và bà L do cấp sai vị trí. Bị đơn ông H không nhất trí yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Toà án công nhận cho ông H toàn bộ diện tích đất có trong GCNQSD đất đã cấp cho ông trên cơ sở được cụ T3 làm thủ tục tách đất cho từ khi cụ còn sống.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T3 và cụ H3 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, bà H2 vợ ông H và bà B vợ ông P đề nghị xem xét công sức đóng góp của mình đối với việc duy trì, tôn tạo di sản.

Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự và người đại diện hợp pháp của các đương sự đã thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, cụ thể như sau:

  1. Thống nhất chia cho ông H, ông P và bà L phần đất hiện có ngôi nhà của những người này theo sơ đồ mà Toà án cấp sơ thẩm đã chia, trong đó:

    + Ông H được quyền sử dụng 276,8m² đất ở, gồm 242,6m² thuộc thửa 1563 TBĐ 12 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 13, 14, 12', 11', 56, 57, 58, 10', 9', 8', 39, 40, 50, 49, 48, 47, 46, 13); 8,8m² + 25,4m² thuộc thửa 1683, TBĐ 12 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 58, 59, 60, 61, 10', 58 và 53, 54, 55, 56, 11', 53); 64,4m² đất lúa thửa số 9 TBĐ 17 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 11', 12', 24', 25', 26', 51, 52, 53,11'); 68,5m² đất lúa thửa số 10 TBĐ 17 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 19, 20, 21, 51, 26', 25', 30', 19);

    + Ông P được quyền sử dụng 119,4m² đất ở thửa 1683 TBĐ 12 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 63, 15', 16', 17', 18', 34, 35, 66, 65, 64, 63); 63,7m² đất ruộng thửa số 9 TBĐ (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm 62, 23', 15', 63, 62 ); 151,7m² đất ruộng thửa số 10 TBĐ 17 ( có sơ đồ kèm theo gồm các điểm 22, 23, 24, 25, 23', 62, 22 ).

    + Bà L được quyền sử dụng 204m² đất ở, trong đó có 0,2m² thuộc thửa số 1563 TBĐ 12 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 56, 57, 58, 56) và 203,8m² thuộc thửa 1683 TBĐ 12 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 53, 63, 64, 65, 66, 35, 36, 37, 61, 60, 59, 58, 56, 55, 54, 53); 122,6m² đất lúa, trong đó có 61,2m² thuộc thửa số 9 TBĐ 17 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 62, 63, 53, 52, 51, 27, 62) và 61,4m² thuộc thửa số 10 TBĐ 17 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 51, 21, 22, 62, 27', 51 ).

  2. Ông Nguyễn Xuân H, ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Xuân T1, ông Nguyễn Xuân P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị S cùng có quyền sử dụng 353,2m² đất ở, trong đó có 142,5m² thuộc thửa 1682 TBĐ 12 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm 1', 2, 3, 4, 2', 7, 8, 4', 5', 1'); 210,7m² thuộc thửa 1563 TBĐ 12 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 4', 10, 11, 12, 47, 48, 49, 50, 40, 41, 6', 5', 4').
  3. Về tài sản gắn liền với đất: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
  4. Phần diện tích 21,4 m² thuộc thửa 1563, TBĐ 12 theo sơ đồ gồm các điểm: 12, 67, 14, 13, 46, 47 được sử dụng là lối đi chung.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự chịu án phí tương ứng với giá trị tài sản (di sản) mà mình được hưởng. Tuy nhiên, do ông H, ông P, ông H1, ông T1, bà L, bà L1 đều là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Bà S chịu án phí đối với phạm vi quyền tài sản của mình. Cụ thể, bà S được hưởng quyền di sản tương ứng với 1/7 diện tích đất 353,2m² (353,2: 7 phần = 50,45m²), tính theo giá của Hội đồng định giá là 1.400.000đ/m², giá trị kỷ phần bà S được hưởng là 70.640.000đ, mức án phí = 5% của số tiền này = 3.532.000₫
  6. Chi phí tố tụng: Ông P tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (đã thực hiện xong).
  7. Ông H, ông P, bà L có nghĩa vụ nộp bản gốc Giấy chứng nhận QSD đất tại cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký biến động quyền sử dụng đất và để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho các đương sự theo quyết định của bản án này.
  8. Ông H, ông H1, ông T1, ông P, bà L, bà L1, bà S có quyền làm thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận QSD đất tại cơ quan có thẩm quyền đối với những phần diện tích mà mình được công nhận quyền sử dụng.

Xét thấy sự thoả thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận với các nội dung như trên.

[3]. Án phí dân sự phúc thẩm:

Căn cứ khoản 5 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông H kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, do ông H là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông H.

[4]. Xét quan điểm của đại diện VKS về việc sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 06/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể như sau:

  1. Ông Nguyễn Xuân H được quyền sử dụng 276,8m² đất ở, trong đó có 242,6m² thuộc thửa 1563 TBĐ 12 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 13, 14, 12', 11', 56, 57, 58, 10', 9', 8', 39, 40, 50, 49, 48, 47, 46, 13); 8,8m² + 25,4m² thuộc thửa 1683, TBĐ 12 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 58, 59, 60, 61, 10', 58 và 53, 54, 55, 56, 11', 53); 64,4m² đất lúa thửa số 9 TBĐ 17 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 11', 12', 24', 25', 26', 51, 52, 53,11'); 68,5m² đất lúa thửa số 10 TBĐ 17 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 19, 20, 21, 51, 26', 25', 30', 19);
  2. Ông Nguyễn Xuân P được quyền sử dụng 119,4m² đất ở tại thửa 1683 TBĐ 12 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 63, 15', 16', 17', 18', 34, 35, 66, 65, 64, 63); 63,7m² đất ruộng thửa số 9 TBĐ 17 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm 62, 23', 15', 63, 62 ); 151,7m² đất ruộng thửa số 10 TBĐ 17 ( có sơ đồ kèm theo gồm các điểm 22, 23, 24, 25, 23', 62, 22 ).
  3. Bà Nguyễn Thị L được quyền sử dụng 204m² đất ở, trong đó có 0,2m² thuộc thửa số 1563 TBĐ 12 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 56, 57, 58, 56) và 203,8m² thuộc thửa 1683 TBĐ 12 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 53, 63, 64, 65, 66, 35, 36, 37, 61, 60, 59, 58, 56, 55, 54, 53); 122,6m² đất lúa, trong đó có 61,2m² thuộc thửa số 9 TBĐ 17 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 62, 63, 53, 52, 51, 27, 62) và 61,4m² thuộc thửa số 10 TBĐ 17(có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 51, 21, 22, 62, 27', 51 ).
  4. Ông Nguyễn Xuân H, ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Xuân T1, ông Nguyễn Xuân P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị S cùng có quyền sử dụng 353,2m² đất ở, trong đó có 142,5m² thuộc thửa 1682 TBĐ 12 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm 1', 2, 3, 4, 2', 7, 8, 4', 5', 1'); 210,7m² thuộc thửa 1563 TBĐ 12 (có sơ đồ kèm theo gồm các điểm: 4', 10, 11, 12, 47, 48, 49, 50, 40, 41, 6', 5', 4').
  5. Phần diện tích 21,4m² thuộc thửa 1563, TBĐ 12 theo sơ đồ gồm các điểm: 12, 67, 14, 13, 46, 47 được sử dụng là lối đi chung.
  6. Về tài sản gắn liền với đất: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
  7. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Xuân H, ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Xuân T1, ông Nguyễn Xuân P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L1.
    2. Bà Nguyễn Thị S chịu 3.532.000đ (ba triệu năm trăm ba mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

      Ông P được hoàn lại 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai số 0002135 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, nay là phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 - Thái Nguyên.

    3. Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Xuân H.
  8. Chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Xuân P tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (đã thực hiện xong).
  9. Ông H có nghĩa vụ nộp bản gốc Giấy chứng nhận QSD đất số CX 687974 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 17/9/2020 và Giấy chứng nhận QSD đất số AO 191047 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 01/6/2009; ông P có nghĩa vụ nộp bản gốc Giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ 01334/QSDĐ 578/1999/QĐ-UB/H ngày 14/12/1999; bà L có nghĩa vụ nộp bản gốc Giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ 00906/QSDĐ 578/1999/QĐ-UB/H ngày 14/12/1999 tại các cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký biến động quyền sử dụng đất và để làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất cho các đương sự theo quyết định của bản án này.
  10. Ông H, ông H1, ông T1, ông P, bà L, bà L1, bà S có quyền làm thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận QSD đất tại cơ quan có thẩm quyền đối với các phần diện tích đất được công nhận quyền sử dụng theo quyết định của bản án này.

Các cơ quan có thẩm quyền căn cứ quyết định của bản án này để thực hiện việc điều chỉnh biến động và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND Khu vực 1 - TN;
  • - Phòng THADS Khu vực 1- TN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị An

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Phương

Vũ Thị An

Lý Thị Thúy

 

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 216/2025/DS-PT ngày 25/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp thừa kế

  • Số bản án: 216/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRanh chấp thừa kế tài sản giữa nguyên đơn Nguyễn Xuân Phượng và bị đơn Nguyễn Xuân Hòa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger