Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2026/HS-PT

Ngày: 16/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Thái Lan.

Các Thẩm phán: ông Lý Thơ Hiền.

bà Lê Thị Thanh Huyền.

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Thanh Trà - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: ông Hoàng Văn Thoán - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 339/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Quang V và Trương Đình T phạm tội “Cướp tài sản”, do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Quang V và Trương Đình T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 366/2025/QĐXXPT-HS ngày 22/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2026/HSPT-QĐ ngày 06/01/2026;

Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Thị B, sinh ngày 15/05/1971; tại: tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk); Nơi cư trú: khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hóa: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn D (chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1935; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; chồng Nguyễn Quang V, sinh năm 1967; có 02 con lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Nguyễn Quang V, sinh ngày 15/5/1967; tại: tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk); Nơi cư trú: khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn H (chết) và bà Lý Thị R (chết); Gia đình có 11 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; vợ Nguyễn Thị B, sinh năm 1971; có 02 con lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

3. Trương Đình T, sinh ngày 02/10/1964; tại: tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk); Nơi cư trú: khu phố M, phường H, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Trương Đình T1, sinh năm 1944 và bà Ngô Thị T2, sinh năm 1943; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; vợ Trần Thị M, sinh năm 1964; có 05 con lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Năm 1994 bị Công an huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 150.000 đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

* Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1987; Địa chỉ: thôn P, xã H, tỉnh Đắk Lắk.

* Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Thị B và Nguyễn Quang V: Ông Ngô Minh T3 – Luật sư thuộc Văn phòng L3. Địa chỉ: B N, phường T, tỉnh Đắk Lắk.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Bá C, sinh năm 1979; nơi cư trú: thôn P, xã H, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

2. Ông Huỳnh Văn C1, sinh năm 1996; nơi cư trú: khu phố T, phường H, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

3. Bà Trà Thị Bảo T4, sinh năm 1994; nơi cư trú: 3 L, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 7/2019 vợ chồng ông Nguyễn Quang V, bà Nguyễn Thị B có cho vợ chồng ông Nguyễn Bá C, bà Nguyễn Thị Kim L1 vay số tiền 100.000.000 đồng để làm ăn. Đến khoảng giữa năm 2022, vợ chồng ông C, bà L1 chưa trả được nợ nên các bên thống nhất ông C có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông V, bà B số tiền 100.000.000 đồng đã vay, bà L1 không có trách nhiệm phải trả nợ. Sau đó, ông C có trả cho vợ chồng ông V, bà B tổng số tiền 38.000.000 đồng rồi không trả nữa; vợ chồng ông V, bà B nhiều lần gọi điện thoại cho ông C đòi số tiền còn lại nhưng không được.

Do đòi tiền từ C không được nên sáng ngày 24/7/2023, Nguyễn Quang V, Nguyễn Thị B thống nhất đi đến chỗ làm của bà Nguyễn Thị Kim L1 đòi số tiền còn nợ, nếu không trả thì lấy tài sản của L1. Để buộc L1 phải trả nợ, V, B đến rủ Trương Đình T cùng đi và nhờ T tìm “người có máu mặt” đi cùng để bà L1 sợ, trả nợ, T đồng ý và nói có Nguyễn Sơn Đ. Sau đó, V, B thuê ông Huỳnh Văn C1 là tài xế taxi chở cả ba đến nhà của Nguyễn Sơn Đ tại khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk). Khi gặp nhau, V, B bảo Đ cùng đi đến huyện T (cũ) gặp L1 để đòi nợ, Đ đồng ý nên tất cả lên xe để C1 chở đi gặp L1.

Khoảng 11 giờ ngày 24/7/2023, sau khi gặp nhau, V, B, T và Đ ngồi nói chuyện cùng L1 tại nhà của bà Nguyễn Thị L2 ở thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn P, xã H, tỉnh Đắk Lắk) thì V, B yêu cầu L1 phải trả số tiền nợ còn lại mà C chưa trả hết; L1 không đồng ý nên B nói nếu hôm nay L1 không trả thì sẽ lấy hết tài sản của L1, nghe vậy Đ nói “nợ tiền không trả mà có vàng đeo đầy người” rồi Đ và T đi ra phía trước sân đứng. Lúc này, B thấy trong túi quần của L1 có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52 nên B dùng tay giằng lấy chiếc điện thoại dẫn đến Bé và L1 xảy ra cãi nhau, gây ồn ào nên bà L2 yêu cầu tất cả ra khỏi nhà rồi đóng cửa lại. Khi ra trước nhà bà L2, V và B tiếp tục nói hôm nay L1 có tài sản gì thì lấy hết, khi nào L1 trả tiền nợ thì sẽ trả lại tài sản. Thấy trên người L1 có mang nhiều trang sức nên B dùng tay cầm tóc kéo, đè đầu L1 xuống làm L1 không kháng cự được rồi tháo 01 sợi dây chuyền và mặt dây chuyền bằng vàng L1 đang đeo trên cổ, Bé tiếp tục tháo các chiếc nhẫn trên tay L1 nhưng bị L1 kháng cự, không cho lấy nên B dùng tay bẻ các ngón tay của L1 ra rồi lấy 03 chiếc nhẫn vàng L1 đang đeo. Trong lúc B đang dùng vũ lực lấy tài sản của L1 thì V lại gần đó dắt chiếc xe mô tô hiệu Air Blade biển số 78F1- 585.27 của L1 đến chỗ Bé để mang về. Sau khi bị lấy một số tài sản, L1 thấy chiếc điện thoại di động của mình đang trong túi quần của Bé nên lấy lại thì cả hai giằng co chiếc điện thoại, thấy vậy, V đi đến dùng tay giật lấy điện thoại của L1 cất vào người; Bé tiếp tục định tháo chiếc hoa tai bằng vàng L1 đang đeo nhưng V nói không cần nên B dừng lại. Lúc này, T, Đ đang đứng gần nơi V, B lấy tài sản của L1 và chứng kiến toàn bộ sự việc nhưng không có lời nói và hành động can ngăn. Sau khi lấy được tài sản, B mang đến chỗ T, Đ đang đứng đợi rồi lên xe taxi để C1 chở đi, còn V thì dắt xe mô tô của bà L1 đi gửi tại nhà người quen ở gần đó rồi cùng lên xe để C1 chở về nhà. L1 bị chiếm đoạt tài sản nên đến Công an xã H (nay là Công an xã H) trình báo sự việc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 22 ngày 08/8/2023, Hội đồng định giá tài sản huyện T (cũ) kết luận: Các tài sản gồm 01 điện thoại di động hiệu S1 A52, 01 sợi dây chuyền vàng, 01 mặt dây chuyền vàng, 03 chiếc nhẫn vàng, 01 xe mô tô hiệu Air Blade biển số 78F1 - 585.27 có tổng giá trị là 46.458.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Đã tạm giữ và trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52, 01 sợi dây chuyền vàng, 01 mặt dây chuyền vàng, 03 chiếc nhẫn vàng và xe mô tô biển số 78F1- 585.27 cho chủ sở hữu là Nguyễn Thị Kim L1.

Phần dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Kim L1 tổng cộng 14.000.000 đồng, cụ thể: Nguyễn Quang V, Nguyễn Thị B đã bồi thường cho bị hại L1 10.000.000 đồng, Trương Đình T nộp 1.000.000 đồng, Nguyễn Sơn Đ nộp 3.000.000 đồng. Bị hại có đơn không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKS-KV13 ngày 13/8/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Đắk Lắk đã truy tố các bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2025/HS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk, đã quyết định:

Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Quang V, Trương Đình T và Nguyễn Sơn Đ đồng phạm tội “Cướp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với tất cả các bị cáo;

Áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Quang V, Trương Đình T và Nguyễn Sơn Đ.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Trương Đình T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn Đ 01 (một) năm tù, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/10/2025, bị cáo Trương Đình T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Ngày 08/10/2025, bị cáo Nguyễn Quang V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Ngày 08/10/2025, bị cáo Nguyễn Thị B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

* Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Xét đơn kháng cáo của các bị cáo về hình thức đúng quy định pháp luật, về thời gian đúng thời gian quy định nên đơn kháng cáo hợp lệ.

- Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Quang V, Trương Đình T phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo tuy nhiên mức hình phạt dành cho các bị cáo có phần nghiêm khắc so với tính chất mức độ hậu quả do hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo B cung cấp hồ sơ bị cáo đang điều trị bệnh rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn nặng với các triệu chứng loạn thần, bệnh lý tăng huyết áp; bị cáo V là lao động chính trong gia đình và đang chăm sóc vợ bị bệnh nặng; bị cáo T cung cấp tài liệu chứng minh người thân của bị cáo là những người có công Cách mạng gồm: ông nội Trương B1 – Liệt sĩ; cậu Ngô Văn S – Liệt sĩ; hiện nay bị cáo có cha mẹ già yếu cần bị cáo chăm sóc. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới cần được xem xét. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk về phần hình phạt. Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 BLHS đối với các bị cáo B, V, T. Áp dụng Điều 65 đối với bị cáo T. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị B 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo Nguyễn Quang V 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo Trương Đình T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo B, bị cáo V trình bày:

Xuất phát từ việc người bị hại nợ tiền của bị cáo nhưng kéo dài thời gian không trả nợ, sau đó bị hại có trả nợ nhưng không trả hết nợ nên các bị cáo mới có hành vi vi phạm pháp luật. Cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với các bị cáo về “Tội cướp tài sản” là đúng tội danh. Hành vi phạm tội của các bị cáo là do nhận thức pháp luật của các bị cáo còn hạn chế, nên dẫn đến cách xử sự của các bị cáo không đúng; các bị cáo chỉ muốn lấy lại tài sản mà bị hại nợ của bị cáo. Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đã thành thật khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả. Mặt khác, bị cáo B đang bị bệnh nặng, phải điều trị lâu dài; cần có người nhà (bị cáo V – chồng bị cáo B) chăm sóc. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo B, V được hưởng án treo.

* Các bị cáo trình bày:

- Bị cáo Nguyễn Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt; giữ nguyên yêu cầu kháng cáo về xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

- Bị cáo Nguyễn Quang V đã nhận thức được hành vi sai trái của mình, mức án cũng cao nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện phụ giúp gia đình, chăm sóc vợ ốm đau.

- Bị cáo Trương Đình T cảm thấy rất ăn năn hối lỗi với hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo; bị cáo cam đoan sẽ không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

- Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị B là người kháng cáo có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351 BLTTHS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

- Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Quang V, Trương Đình T trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 24/7/2023 tại thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn P, xã H, tỉnh Đắk Lắk) Nguyễn Thị B, Nguyễn Quang V, Trương Đình T và Nguyễn Sơn Đ đã có hành vi bàn bạc thống nhất đi đòi nợ, dùng vũ lực chiếm đoạt 01 điện thoại di động, 01 sợi dây chuyền vàng, 01 mặt dây chuyền vàng, 03 chiếc nhẫn vàng và 01 xe mô tô của Nguyễn Thị Kim L1, với tổng giá trị tài sản là 46.458.000đ trong đó, B và V là người thực hành, T và Đ có vai trò giúp sức. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử các bị cáo về tội “ Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình rất nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện, đã dùng vũ lực để cướp tài sản của của bị hại, thể hiện sự coi thường pháp luật. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong dư luận và mất trật tự trị an tại địa phương. Khi lượng hình, bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, xem xét nhân thân, điều kiện phạm tội và áp dụng đúng, đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị B là người khởi xướng và là người thực hành chính, bị cáo Nguyễn Quang V là đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực. Xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo một phần cũng do bị hại nợ tiền của các bị cáo nhưng chưa trả hết, các bị cáo nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Hiện nay bị cáo B đang điều trị bệnh rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn nặng với các triệu chứng loạn thần, bệnh lý tăng huyết áp, bị cáo V là trụ cột gia đình; từng phục vụ trong quân ngũ và hiện nay đang chăm sóc bệnh cho vợ bị cáo (bị cáo B). Do đó có cơ sở xem xét chấp nhận một phần kháng cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, bị cáo B áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự để xử bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với bị cáo Trương Đình T phạm tội với vai trò thứ yếu, sau khi phạm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông nội và cậu ruột đều là những người có công cách mạng, bản thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng không thuộc trường hợp không được hưởng án treo theo Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên không cần thiết bắt bị cáo cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo mức án tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo B, V, T; chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: sửa bản án sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk về phần hình phạt.

[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do một phần yêu cầu kháng cáo được chấp nhận.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Quang V, Trương Đình T; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk về phần hình phạt.

- Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với tất cả các bị cáo.

- Áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trương Đình T.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Quang V, Trương Đình T phạm tội “ Cướp tài sản ”.

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Thị B 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Bị cáo Nguyễn Quang V 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Bị cáo Trương Đình T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Trương Đình T cho Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Đắk Lắk giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Quang V, Trương Đình T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - VKSND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND khu vực 13 - Đắk Lắk;
  • - VKSND khu vực 13 – Đắk Lắk;
  • - Chi cục THADS khu vực 13 - Đắk Lắk;
  • - Công an tỉnh Đắk Lắk (LLTP);
  • - UBND phường Hòa Hiệp, tỉnh Đắk Lắk;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thái Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2026/HS-PT ngày 16/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về vụ án hình sự - cướp tài sản

  • Số bản án: 21/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự - Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CƯỚP TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger