Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HSST

Ngày 30 tháng 9 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Văn An

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Hồng Lành
  2. Bà Dương Thị Tú Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bé – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Hồ Nhật D, sinh ngày 26/9/2008, tại xã B, tỉnh Cà Mau. Tên gọi khác: Không có tên gọi khác. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp F L, xã B, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã T, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Tửng E, sinh năm 1986 và bà Hồ Thị G, sinh năm 1990; Vợ, con: Chưa có; Anh, chị, em ruột: Không có; Tiền sự: Ngày 17/12/2024, UBND xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, phạt cảnh cáo nay đã xóa tiền sự; Tiền án: Không. Hiện nay bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
  2. Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Hồ Nhật D: Ông Nguyễn Tửng E, sinh ngày 19/11/1986.

    Địa chỉ: Ấp C, xã T, tỉnh Cà Mau.

  3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Hồ Nhật D: Ông Huỳnh Văn V là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C.

    Địa chỉ: Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C.

  4. Bị hại: Ông Mai Hoàng K, sinh ngày 25/10/1997.

    Địa chỉ: Ấp H, xã P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 ngày 06/01/2025, Hồ Nhật D mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số: 81F9-0305 của ông Nguyễn Văn T (ông T là ông nội của D) chở Lê Lâm Vĩnh C, sinh ngày 14/9/2010 đi Giá Rai chơi, do không có tiền tiêu xài nên trên đường đi D rủ C đi tìm xe mô tô trộm bán lấy tiền tiêu xài và được C đồng ý. Đến khoảng 14 giờ 00 cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc ấp H, xã P, tỉnh Cà Mau. Bị cáo D thấy có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số: 94E1-157.02 của anh Mai Hoàng K đang đậu ở khu vực đất trống ven đường, không có người trông coi, bị cáo D kêu C đi vào lấy trộm xe, còn D ở bên ngoài canh chừng. C thấy xe có khóa cổ nên nói cho D biết, D đi vào dùng chân đạp vào tay lái xe và dùng tay bứt dây max để khởi động xe. Khi khởi động được xe, bị cáo D điều khiển xe biển số: 81F9-0305 chạy trước, còn C điều khiển chiếc xe mới trộm được đi sau. Khi D và C điều khiển xe nói trên đến cầu vượt thuộc ấp B, xã P, tỉnh Cà Mau, rồi cùng dừng xe lại, cùng nhau dùng tay tháo vỏ áo bửng xe, cạy vỏ áo hai bên sườn xe vứt xuống sông, mục đích để không cho người khác phát hiện. Đến khoảng 15 giờ 00 cùng ngày, bị cáo D và C đang dừng xe trên đoạn đường thuộc ấp B, xã P, tỉnh Cà Mau tìm cách bán chiếc xe trộm được thì bị cáo D thấy ông Bùi Văn K1 đang kéo xe thu mua phế liệu đi ngang qua nên kêu ông K1 lại bán xe. Ông K1 đi lại quan sát chiếc xe biển số: 94E1-157.02 rồi hỏi D “xe của ai, tại sao bán”, “con ở đâu”, D trả lời “xe của con”, “tụi con ở 21, đi chơi hết tiền đổ xăng nên bán xe lấy tiền đi về”, ông K1 tiếp tục hỏi “Xe này có giấy tờ hay không” D trả lời “không mang theo giấy tờ, con bỏ ở nhà”. Ông K1 tin là xe của bị cáo D nên đồng ý mua với giá 600.000 đồng. Sau khi bán xe cho ông K1 xong, bị cáo D chia cho C số tiền 300.000 đồng, D giữ lại số tiền 300.000 đồng, số tiền trên D và C dùng để tiêu xài cá nhân.

Sau khi mua được xe, ông K1 kéo chiếc xe biển số: 94E1-157.02 mang về nhà của mình thuộc ấp B, xã P, tỉnh Cà Mau rồi tháo rời chiếc xe ra từng bộ phận để đem bán phế liệu. Đến khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, Bùi Trọng G1 (con ông K1) đi làm về kể cho ông K1 nghe việc anh Mai Hoàng K là bạn của G1 bị mất xe, ông K1 kêu Gìn nhìn chiếc xe mua được có phải là xe của K không, G1 nhìn thấy chiếc xe vẫn còn biển số: 94E1-157.02, xác định là chiếc xe của K bị mất. Bùi Văn K1 biết được mua phải xe trộm nên kêu Gìn báo ngay cho K và Công an biết, rồi giao nộp chiếc xe mô tô biển số: 94E1-157.02 cho Công an. Đến ngày 12/01/2025, Hồ Nhật D và Lê Lâm Vĩnh C đến Công an xã P (nay là Công an xã P) đầu thú và giao nộp lại số tiền 518.000 đồng (bị cáo D giao nộp 275.000 đồng, C giao nộp 243.000 đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 08/KL-HĐĐGTS ngày 19/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave, màu sơn: Trắng – Bạc - Đen, biển số: 94E1-157.02, số máy: C12E-5424909, số khung: 121XDY424735, sử dụng ngày 27/10/2014, tại thời điểm bị mất trộm ngày 06/01/2025 có giá là 8.333.333 đồng (Tám triệu ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).

Cáo trạng số: 14/CT-VKS-HS ngày 10/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau truy tố bị cáo Hồ Nhật D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau đã phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Hồ Nhật D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Điều 38, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 của Luật tư pháp người chưa thành niên được thông qua ngày 30/11/2024.
  • Xử phạt: Bị cáo Hồ Nhật D mức án từ 03 tháng đến 05 tháng tù.
  • - Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b, c, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo khoát nam màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun màu trắng sữa, có nhiều hoa văn; 01 (một) quần thun màu đen, đã qua sử dụng; Tịch thu sung quỹ số tiền 518.000 đồng.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Hồ Nhật D: Trợ giúp viên ông Huỳnh Văn V có quan điểm: Thống nhất và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, cũng như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Hồ Nhật D. Riêng việc áp dụng điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự về hành vi xúi giục người chưa thành niên phạm tội. Căn cứ vào Điều 20 của Bộ luật dân sự xác định bản thân bị cáo D cũng là người chưa thành niên cho nên việc áp dụng pháp luật trong trường hợp này là chưa thống nhất do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự về hành vi xúi giục người chưa thành niên phạm tội đối với bị cáo D để bị cáo được hưởng mức hình phạt ở dưới mức thấp nhất có thể.

Tại phiên tòa, bị cáo D không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thu thập chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác đảm bảo đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
  2. Tại phiên tòa, về sự vắng mặt của người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Tửng E và bị hại ông Mai Hoàng K trong vụ án. Xét thấy, trong quá trình điều tra người bị hại và người đại diện đã có lời khai rõ ràng nên sự vắng mặt của bị hại, người đại diện tại phiên tòa hôm nay không trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông K và ông Tửng E theo quy định của pháp luật.
  3. Về nội dung vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hồ Nhật D thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng thu giữ, thời gian và địa điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp các chứng cứ khác có lưu trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 06 tháng 01 năm 2025, bị cáo Hồ Nhật D cùng với Lê Lâm Vĩnh C đã lén lút lấy trộm một xe mô tô nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave, màu sơn: Trắng – Bạc - Đen, biển số: 94E1-157.02 đã qua sử dụng của ông Mai Hoàng K ở ấp H, xã P, tỉnh Cà Mau. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo D chiếm đoạt được theo định giá với số tiền là 8.333.333 đồng.
  4. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hội đồng xét xử xét thấy, khi thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo D có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền quản lý, sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang cho người dân. Bị cáo biết rõ hành vi trên là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, điều này thể hiện bị cáo xem thường pháp luật. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại qua giám định có giá trị là 8.333.333 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số: 14/CT-VKS-HS ngày 10/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
  5. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo D biết rõ hành vi trên là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện và xúi giục Lê Lâm Vĩnh C người dưới 16 tuổi phạm tội. Do đó, bị cáo D phải chịu tình tiết tăng nặng “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Cho nên, lời bào chữa của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  6. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo vận động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo D có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo D mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định cũng là thỏa đáng.
  7. Ngoài ra, căn cứ vào kết luận giám định về độ tuổi trên người sống số: 12/KLGĐĐT-TTPY ngày 24/3/2025 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh C thì bị cáo Hồ Nhật D có độ tuổi từ 16 năm 03 tháng đến 16 năm 09 tháng (Tại thời điểm giám định), như vậy để áp dụng có lợi cho bị cáo thì tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội xác định bị cáo chưa thành niên nên Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 119 và Điều 179 của Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo khi xem xét, quyết định hình phạt.
  8. Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo theo quy định. Từ đó, thấy rằng cần có mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.
  9. Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Lê Lâm Vĩnh C: Hội đồng xét xử thấy rằng, khi thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản nêu trên thì C chưa đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
  10. Đối với hành vi mua xe mô tô nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave, màu sơn: Trắng – Bạc - Đen, biển số: 94E1-157.02 đã qua sử dụng của ông Bùi Văn K1: Hội đồng xét xử xét thấy, khi thực hiện giao dịch mua bán chiếc xe này với bị cáo D thì ông K1 không biết đây là tài sản do bị cáo D trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
  11. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy:
    • + 01 (một) áo khoát nam màu đen, đã qua sử dụng;
    • + 01 (một) áo thun màu trắng sữa, có nhiều hoa văn;
    • + 01 (một) quần thun màu đen, đã qua sử dụng;

    (Vật chứng trên do Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 – Cà Mau đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/9/2025).

    + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: Đối với số tiền 518.000 đồng (Năm trăm mười tám nghìn đồng).

  12. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét giải quyết.
  13. Như đã nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
  14. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Hồ Nhật D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 của Luật Tư pháp người chưa thành niên.

    Tuyên bố: Bị cáo Hồ Nhật D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Hồ Nhật D 04 (bốn) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo D bị bắt để thi hành án.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy:
    • + 01 (một) áo khoát nam màu đen, đã qua sử dụng;
    • + 01 (một) áo thun màu trắng sữa, có nhiều hoa văn;
    • + 01 (một) quần thun màu đen, đã qua sử dụng;

    (Vật chứng trên do Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 – Cà Mau đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/9/2025).

    + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: Đối với số tiền 518.000 đồng (Năm trăm mười tám nghìn đồng).

    (Vật chứng trên do Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau đang quản lý theo biên lai thu tiền số: 0000239 ngày 22/9/2025).

  3. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Hồ Nhật D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND Khu vực 9 – Cà Mau;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau;
  • - Phòng THADS Khu vực 9 – Cà Mau;
  • - CQCSĐT - CA tỉnh Cà Mau;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Danh Văn An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HSST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CÀ MAU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 21/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Hồ Nhật Duy phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger