Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày: 27 - 9 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồ có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Thủy và ông Nguyễn Bá Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Thành - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát khu vực 3 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST- HS, ngày 10/9/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 9 năm 2025, đối với các bị cáo:

1/ Phạm Trọng Hoàng A - Sinh ngày 10/02/2007; Nơi ĐKNKTT: Thôn E, xã Q, huyện Q (nay là xã Q), tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố P, phường N, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Trọng H (đã chết) và bà Hoàng Thị H1; Chưa có vợ. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2025 đến ngày 12/9/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Có mặt.

2/ Cao Văn Đ - Sinh ngày 16/02/2005; Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã Đ, TP . (nay là Tổ dân phố T, phường N), tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Văn K và bà Đới Thị Q; Chưa có vợ. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2025 đến ngày 12/9/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Có mặt.

3/ Mai Ngọc T - Sinh ngày 03/8/2006; Nơi ĐKNKTT: Thôn C, xã Q, huyện Q (nay là xã Q), tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Ngọc B và bà Nguyễn Thị T1; Chưa có vợ. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2025 đến ngày 12/9/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Nguyễn Anh Q1, sinh ngày 22/4/2010 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Khu phố T, phường S, tỉnh Thanh Hóa.

    Người đại diện cho Q1: Chị Cao Thị N, sinh năm 1990 (mẹ Q1)

    Địa chỉ: Khu phố T, phường S, tỉnh Thanh Hóa.

  • + Vũ Tiến T2, sinh ngày 04/9/2007 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn E, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

  • + Nguyễn Tài A1, sinh ngày 15/6/2008 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Phố T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

    Người đại diện cho A1: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1977 (bố A). Địa chỉ: Phố T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

  • + Trịnh Huy Tuấn T3, sinh ngày 01/3/2008 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Phố A, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

    Người đại diện cho T3: Anh Trịnh Huy B1, sinh năm 1982 (bố của T3)

    Địa chỉ: Phố A, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các lài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 6 năm 2025 Phạm Trọng Hoàng A, Cao Văn Đ, Mai Ngọc T, Nguyễn Anh Q1 cùng nhau đi xe máy đến khu vực thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã T, tỉnh Thanh Hóa) chơi, thì bị một nhóm thanh niên lạ mặt (không xác định được nhân thân, lý lịch) trêu ghẹo; nên tối ngày 06/6/2025 Hoàng A, Đ, T, Q1 nói chuyện với nhau đi tìm nhóm thanh niên T để dằn mặt, thị uy. Sau đó Đ lấy 01 (một) con dao; Hoàng A lấy 02 (hai) con dao đều cất giấu ở công ty nơi các bị cáo làm việc tại thị trấn nưa, huyện T (nay là xã T) sau khi lấy 02 con dao Hoàng A đưa cho T 01 (một) con, sau đó cùng nhau đi xe máy từ thị trấn N, huyện T (nay là xã T) đến thị trấn T (nay là xã T). Khi đi Phạm Trọng Hoàng A điều khiển xe máy Honda Vision màu đen, biển kiểm soát: 36B6-331.62 chở theo Cao Văn Đ và Nguyễn Anh Q1; Mai Ngọc T điều khiển xe máy Honda Future màu trắng, BKS 36BB-063.52 chở theo chị Nguyễn Huyền L1, sinh năm 2006, trú tại thôn N, xã Q, tỉnh Thanh Hóa (là người yêu T).

Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày 06/6/2025 các bị cáo điều khiển xe máy đi đến khu vực ngã tư G, thuộc tổ dân phố G, thị trấn T, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã T) thì nhìn thấy anh Nguyễn Tài A1, anh Nguyễn Văn T4, anh Trịnh Huy Tuấn T3, anh Vũ Tiến T2, và anh Nguyễn Phạm Hải A2 đang ngồi uống nước tại quán vỉa hè của chị Hà Thị T5, sinh năm 1987, địa chỉ tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (nay là tổ dân phố C, xã T, tỉnh Thanh Hóa). Do nghi ngờ đây là nhóm thanh niên lạ mặt đã trêu ghẹo mình trước đó nên Hoàng A, Đ, T, Q1 cùng dừng xe lại, xuống xe rồi Hoàng A, Đ, T cầm dao mang theo trước đó và Q1 cầm ghế nhựa ở quán nước lùa đuổi các anh Tài A1, Văn T4, T, Tuấn T3, Hải A2 trên đoạn đường kéo dài 100 mét từ quán nước chị T5 theo hướng từ ngã tư G đi xã D (nay là xã T) tỉnh Thanh Hóa đến khu vực đối diện cổng chính Chợ G thì dừng lại. Trong lúc vừa lùa đuổi Hoàng A, Đ, T, Q1 vừa la hét ầm ĩ trên đường. Khi lùa đuổi đến cổng chợ G do không lùa kịp nên đã quay lại nhìn thấy các xe máy đang để gần quán nước của chị T5, thì Hoàng A cầm dao chém 02 phát vào đuôi xe máy Exciter 135cc màu đỏ, BKS 36B8-362.28 và chém 02 phát vào chiếc máy Exciter màu đỏ, đen BKS 36B7-174.75; Hoàng A tiếp tục dùng chân đạp đỗ xe Vision BKS 36B6-33162. Q1 cầm ghế nhựa lấy tại quán của chị T5 ném vào xe máy BKS36B8-362.28; T dùng chân đạp đổ xe Exciter màu đỏ đen BKS 36B7-174.75; Đảm cầm dao chém một phát vào phần khung sắt giáp với nơi để chân của xe máy BKS 36B7-174.75. Lúc này được người dân can ngăn Hoàng A, Đ, T, Q1 lên xe ra về.

Ngày 07/6/2025 Ủy ban nhân dân thị trấn T báo cáo vụ việc đến C huyện T về vụ việc xảy ra tại ngã tư G, nơi tập trung đông dân cư và các hộ kinh doanh, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự công cộng.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, nên ngày 08/6/2025, Phạm Trọng Hoàng A, Cao Văn Đ, Mai Ngọc T đến Công an đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp 02 con dao trong đó 01 con dao có chiều dài 50cm, bản rộng nhất của dao dài 5,5cm; 01 con dao nhọn dài 30cm, bản rộng nhất của dao là 04cm; 01 xe máy BKS 36B6 - 331.62; 01 xe máy 36BB - 063.52.

Ngày 27/6/2025 Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện T tiến hành định giá tài sản thiệt hại. Tại bản kết luận định giá tài sản số 503/KL-HĐĐGTS ngày 27/6/2025 kết luận:

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ, đen, biển kiểm soát: 36B7-174.75: Biển kiểm soát bị cong vênh theo chiều từ trước về sau; phần nhựa của ốp biển kiểm soát bị vỡ theo chiều từ ngoài vào trong, vết có kích thước 14cm x 18cm là xe máy của anh Trịnh Huy Tuấn T3, có giá trị thiệt hại là 50.000 đồng.

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ, đen, biển kiểm soát: 36B8-362.28: Hệ thống chắn bùn sau, biển kiểm soát bị gãy rời khỏi xe; phần nhựa của biển kiểm soát bị vỡ, vết có kích thước 16cm x 20cm là xe máy của anh Vũ Tiến T2, có giá trị thiệt hại là 400.000 đồng.

- 01 (một) xe máy BKS 36B6-331.62, nhãn hiệu Honda Vision màu nâu, đen: Ốp đồng hồ tốc độ, ốp chắn phía trước đầu xe bị nứt, vỡ, vết có kích thước 16cm x 39cm là xe máy của anh Nguyễn Tài A1 có giá trị là 700.000 đồng

Tổng giá trị thiệt hại của ba xe máy trên là 1.150.000đ.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, xử lý vật chứng:

- Thu giữ của Phạm Trọng Hoàng A 01 con dao có chiều dài 50cm, bản rộng nhất của dao dài 5,5cm, dao có lưỡi sắc bằng kim loại, cán dao bằng nhựa màu nâu dài 13,5cm; thu giữ của Mai Ngọc T 01 (một) dao nhọn dài 30cm, bản rộng nhất của dao là 04cm, dao có lưỡi sắc bằng kim loại, cán dao bằng nhựa màu nâu dài 15cm, dao có vỏ bằng da màu nâu. Tại kết luận giám định số 3053/KL-KTHS ngày 22/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: 01 con dao thu giữ của Hoàng A gửi giám định kết luận là mã tấu, thuộc phụ lục 3 “Danh mục vũ khí thô sơ”; 01 con dao thu giữ của Mai Ngọc T gửi giám định là dao sắc, nhọn thuộc phụ lục 5 “Danh mục dao có tính chất sát thương” ban hành kèm theo thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024.

- Thu giữ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Future BKS 36BB - 063.52 của Mai Ngọc T, xác định chủ sở hữu xe là của T, đây là xe T dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.

+ Đối với 01 (một) USB 08GB mang nhãn hiệu DT101G2, đã qua sử dụng, chứa các file vi deo ghi nhận diễn biến hành vi phạm tội của các bị cáo được chuyển theo hồ sơ vụ án.

+ Đối với 01 xe máy thu giữ của Cao Văn Đ, nhãn hiệu Honda Vision màu đen, đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 36B6-331.62 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy có số: 308208. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T xác định chủ sở hữu là của ông Cao Văn M (là ông nội của Cao Văn Đ), ông M không biết việc Đ đi xe để làm phương tiện phạm tội nên đã trả lại cho ông Cao Văn M.

+ Đối với con dao nhọn dài khoảng 50cm, do Cao Văn Đ sử dụng khi thực hiện hành vi lùa đuổi, đập phá phương tiện tại ngã tư G, do con dao bị gãy lưỡi nên trên đường về Đ đưa cho Hoàng A rồi Hoàng A vứt ở lề đường gần chợ S, thuộc thị trấn T (cũ), Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an thị trấn T (cũ) tiến hành truy tìm con dao kể trên nhưng không phát hiện, thu giữ được.

* Về phần dân sự:

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, gia đình các bị cáo Phạm Trọng Hoàng A, Cao Văn Đ, Mai Ngọc T đã bồi thường, khắc phục thiệt hại những xe máy bị hư hỏng. Anh Trịnh Huy Tuấn T3, Vũ Tiến T2, Nguyễn Tài A1 đã nhận lại xe nên không yêu cầu bồi thường gì thêm về mặt dân sự.

* Cáo trạng số 16/CT - VKSKV3 ngày 10/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Thanh Hóa truy tố các bị cáo Phạm Trọng Hoàng Anh, Cao Văn Đảm và Mai Ngọc T về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Trọng Hoàng A, Cao Văn Đ và Mai Ngọc T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Phạm Trọng Hoàng A từ 30 tháng đến 33 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Cao Văn Đ từ 27 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Mai Ngọc T từ 25 tháng đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 con dao. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô Honda Future BKS 36BB - 063.52 thu giữ của Mai Ngọc T

Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa các bị cáo đều nhận tội, thống nhất về tội danh, điều luật áp dụng theo bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận đối với Viện kiểm sát, lời nói sau cùng các bị cáo rất ân hận và mong Hội đồng xét xử cho hưởng mức án thấp nhất và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đều đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và khai nhận cụ thể như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/6/2025 tại ngã tư G thị trấn T, huyện T (nay là xã T) Phạm Trọng Hoàng A, Cao Văn Đ và Mai Ngọc T, đã có hành vi cầm dao, Nguyễn Anh Q1 cầm ghế nhựa lấy tại quán nước của chị T5 lùa đuổi Tài A1, Văn T4, T, Tuấn T3, Hải A2 trên đoạn đường kéo dài 100 mét theo hướng từ ngã tư G đi xã D (nay là thôn P, xã T). Vừa lùa đuổi Hoàng A, Đ, T, Q1 vừa la hét ầm ĩ. Sau đó các bị cáo quay lại quán nước của chị Hà Thị T5 tiếp tục dùng dao, ghế nhựa đập, chém, đạp vào 03 xe máy của Nguyễn Tài A1, Trịnh Huy Tuấn T3, Vũ Tiến T2. Hậu quả làm 03 xe máy bị hư hỏng có tổng giá trị thiệt hại là 1.150.000 đồng.

Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa.

Quyết định truy tố và bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 là có căn cứ pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Các bị cáo trong quá trình lùa đuổi Tài A1, Văn T4, T, Tuấn T3, Hải A2 trên đoạn đường kéo dài 100 mét đã sử dụng dao, ghế nhựa và la hét nên cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng", tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự

[3] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Sự việc xảy ra tại đoạn đường khu vực G thị trấn T, huyện T (nay là xã T) để lùa đuổi nhau. Tại khu vực đường Tỉnh lộ 514, là nơi tập trung đông người, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự trên địa bàn, chính quyền địa phương có báo cáo yêu cầu xử lý để đảm bảo tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Do đó cần xử các bị cáo mức án tương xứng để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét vai trò của các bị cáo

Đ1 là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự cấu kết, phân công vai trò một cách chặt chẽ. Tất cả các bị cáo đều trực tiếp thực hành hành vi phạm tội, không có người khởi xướng, lôi kéo. Mỗi bị cáo có mức độ hành vi phạm tội khác nhau, do đó cần phải đánh giá vai trò, mức độ phạm tội đối với từng bị cáo để có biện pháp xử lý, đảm bảo tính nghiêm minh cũng như thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Phạm Trọng Hoàng A là người chuẩn bị 02 con dao, quá trình thực hiện hành vi tích cực dùng dao chém vào 02 xe mô tô, đạp đổ 01 xe mô tô. nên có vai trò đầu. Đối với Cao Văn Đ khi đi chuẩn bị một con dao và sử dụng dao để chém vào 01 xe mô tô nên có vai trò sau Hoàng A. Đối với Mai Ngọc T thực hiện tích cực dùng chân đạp đổ 01 xe mô tô, nên có vai trò sau Đảm.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; sau khi phạm tội đã ra đầu thú, phạm tội lần đầu, tuổi đời còn trẻ mới đủ tuổi thành niên; khi lùa đuổi đánh nhau không gây thiệt hại về sức khỏe cho người khác; bản thân các bị cáo luôn chấp hành mọi chủ trương chính sách pháp luật của nhà nước và địa phương, được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, quá trình sống tại địa phương chấp hành tốt các quy định của pháp luật đều được địa phương xác nhận, do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 bộ luật hình sự cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đối với Nguyễn Anh Q1 khi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng khi chưa đủ 16 tuổi, nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ tài liệu đến Công an phường S, tỉnh Thanh Hóa để xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Phạm Trọng Hoàng A, Mai Ngọc T mặc dù mang theo và sử dụng vũ khí thô sơ, dao có tính sát thương cao trong quá trình thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng không nhằm thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc xâm hại sức khỏe của người khác và không có ai bị thương tích nên không cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, quy định tại Điều 304 Bộ luật hình sự, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã chuyển các tài liệu liên quan đến cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Mang theo trong người hoặc tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện giao thông nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm b, khoản 4, điều 7, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của Phạm Trọng Hoàng A, Cao Văn Đ, Mai Ngọc T, Nguyễn Anh Q1, mặc dù giá trị thiệt hại chưa đủ định lượng để khởi tố các đối tượng về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự, tuy nhiên cần phải xử phạt hành chính để răn đe, giáo dục, phòng ngừa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã chuyển tài liệu đến cơ quan có thẩm quyền để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Trọng Hoàng A, Cao Văn Đ, Mai Ngọc T, Nguyễn Anh Q1 về hành vi “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức”, quy định tại điểm a, khoản 2, điều 15, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

[6] Về phần dân sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, gia đình các bị cáo Phạm Trọng Hoàng A, Cao Văn Đ, Mai Ngọc T đã bồi thường, khắc phục thiệt hại những xe máy bị hư hỏng. Anh Trịnh Huy Tuấn T3, Vũ Tiến T2, Nguyễn Tài A1 đã nhận lại xe nên không yêu cầu bồi thường gì thêm về mặt dân sự. Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Vật chứng: Đối với 02 con dao là công cụ, phương tiện phạm tội nay không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future BKS 36BB - 063.52 của Mai Ngọc T, xác định chủ sở hữu xe là của T, đây là xe T dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Các bị cáo: Phạm Trọng Hoàng A, Cao Văn Đ và Mai Ngọc T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Xử phạt bị cáo Phạm Trọng Hoàng A: 33 (Ba ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử phạt bị cáo Cao Văn Đ: 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử phạt bị cáo Mai Ngọc T: 27 (Hai bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (Năm tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Trọng Hoàng A và Cao Văn Đ cho Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Mai Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2]. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 02 con dao.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu trắng, biển kiểm soát: 36BB - 063.52 của Mai Ngọc T.

(Hiện đang được lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - Thanh Hóa theo biên bản giao nhận ngày 26/9/2025).

- Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc các bị cáo Phạm Trọng Hoàng A, Cao Văn Đ và Mai Ngọc T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự; Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND ku vực 3 - Thanh Hóa;
  • - Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Thi hành án HS; dân sự;
  • - Bị cáo, người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Tuấn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

 

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bá Long

Lê Hữu Thủy

Hoàng Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 27/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THANH HÓA về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Trọng Hoàng Anh và đồng phạm phạm tội gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger