|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2025 “V/V Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Mạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Căn và bà Nguyễn Thị Hảo
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2025/TLST-HNGĐ ngày 08/8/2025 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/8/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2025/QĐHPT ngày 16/9/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985
Nơi thường trú: thôn T, xã H, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi ở hiện tại: khu D (nay là khu H), phường M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Văn M, sinh năm 1981
Nơi thường trú: thôn T, xã H, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi ở hiện tại: khu D (nay là khu H), phường M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (Tòa án đã tống đạt hợp lệ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và bản tự khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn M kết hôn là hoàn toàn tìm hiểu tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2018 tại UBND xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng). Hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Hai người chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau. Trầm trọng nhất vào cuối năm 2024 hai người đã ly thân nhau không ai quan tâm đến ai nữa. Nay tình cảm không còn, mâu thuẫn của anh chị không thể khắc phục được nữa nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn M.
- Về con chung: Chị T và anh M có 02 con chung là Phạm Hồng P, sinh ngày 02/11/2018 và Phạm Ngọc A, sinh ngày 11/12/2020. Quan điểm của chị T nếu Tòa án chấp nhận cho chị ly hôn anh M thì nguyện vọng của chị là được nuôi con chung Phạm Ngọc A và đề nghị giao con chung Phạm Hồng P cho anh Phạm Văn M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Việc cấp dưỡng anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tuy nhiên, ngày 10/9/2025 chị T có đơn đề nghị thay đổi quan điểm về việc nuôi con chung là đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có.
- Về khoản nợ chung: không có.
2. Bị đơn anh Phạm Văn M không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án nên không có quan điểm thể hiện mặc dù đã nhận được thủ tục khởi kiện và các chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của chị T gửi trước khi khởi kiện.
Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý cũng như giấy triệu tập, thông báo tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh M nhưng anh M đều từ chối nhận.
Tại biên bản xác minh ngày 27/8/2025 ông Hoàng Xuân D - phó trưởng khu 4 (nay là khu H), phường M, tỉnh Quảng Ninh, đại diện chính quyền địa phương cung cấp như sau: chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn M kết hôn với nhau từ năm 2018, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng). Sau khi kết hôn chị T và anh M có sinh sống tại địa phương. Tuy nhiên, do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã nhau, hiện nay anh chị đã sống ly thân không còn ai quan tâm đến ai nữa. Quan điểm của chính quyền địa phương, đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật giải quyết cho họ được ly hôn.
Về con chung: chị T và anh M có 02 con chung là Phạm Hồng P, sinh ngày 02/11/2018 và Phạm Ngọc A, sinh ngày 11/12/2020. Quan điểm của chính quyền đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật giao con chung cho các đương sự đủ điều kiện nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi của các con chung.
3. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ. Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp quy định tại Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định tư cách tham gia tố tụng đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng dân sự; thời hạn chuẩn bị xét xử, mở phiên tòa đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý cho đến khi nghị án: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt lần 2 nhưng đã được triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt họ.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” của chị Nguyễn Thị T.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử:
Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Phạm Văn M.
Về con chung: Giao con chung Phạm Hồng P, sinh ngày 02/11/2018 và Phạm Ngọc A, sinh ngày 11/12/2020 cho chị Nguyễn Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: ngày 04/8/2025, người khởi kiện chị Nguyễn Thị T nộp đơn tại Tòa án nhân dân dân khu vực 6 - Quảng Ninh. Tòa án tiến hành thụ lý vụ án bảo đảm đúng quy định tại Điều 195 và 197 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền: căn cứ vào đơn khởi kiện và yêu cầu của người khởi kiện đề ngày 01/8/2025, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền của Tòa án quy định tại Điều 28; Điều 35 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25.6.2025 của Quốc Hội) Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt nhưng đã Tòa án đã tiến hành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt họ.
[2] Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn M kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, anh chị có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng) vào năm 2018. Anh chị chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau, không tôn trọng nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc và đã sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay không ai quan tâm đến ai nữa. Nay tình cảm không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn M.
Đối với anh Phạm Văn M không có mặt tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích của mình nhưng trong quá trình Tòa án làm việc, thu thập chứng cứ tại chính quyền địa phương nơi chị T và anh M chung sống đều thể hiện anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống không hạnh phúc nguyên nhân chủ yếu do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau nên thường xuyên xảy ra va chạm cãi cọ nhau, hiện tại anh chị đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai nữa.
Từ những căn cứ trên, xét thấy nguyện vọng xin ly hôn của chị T là hoàn toàn chính đáng, có căn cứ phù hợp theo quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.
[3] Về con chung: Chị T và anh M có 02 con chung là Phạm Hồng P, sinh ngày 02/11/2018 và Phạm Ngọc A, sinh ngày 11/12/2020. Quan điểm của chị T là được nuôi dưỡng cả hai con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Quan điểm của chị T hoàn toàn có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Vì trong quá trình giải quyết vụ án anh M không hợp tác, không có quan điểm thể hiện việc nuôi con nên giao con chung cho anh M có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các con. Do đó, việc giao cả hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T xác nhận vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí: Án phí ly hôn chị Nguyễn Thị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28; Điều 35 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH ngày 25.6.2025 của Quốc Hội), Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 173, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.
1. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Phạm Văn M.
- Về con chung: Giao cả 02 con chung Phạm Hồng P, sinh ngày 02/11/2018 và Phạm Ngọc A, sinh ngày 11/12/2020 cho chị Nguyễn Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
2. Về án phí:
Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình nhưng được trừ đi số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000488 ngày 08/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh. Chị T đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo:
án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sựthời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Mạnh |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH về tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
