TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – ĐẮK LẮK TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST Ngày 29/9/2025 “V/v tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Niê Y Ling (Ma Bin) và ông Phạm Xuân Lai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Công Luân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 15 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2025/TLST-HNGĐ, ngày 08/5/2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/8/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 15 – Đắk Lắk giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Tạ Thị S, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 05/5/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Tạ Thị S (sau đây gọi tắt là nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Nguyên đơn và ông Phạm Văn Đ (viết tắt là bị đơn) tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên (cũ). Trong thời gian chung sống vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, chồng hay chơi cờ bạc; vợ chồng đã nói chuyện với nhau nhiều lần nhưng vẫn không thể hàn gắn. Hiện tại vợ chồng sống không có hạnh phúc, không còn tình cảm, đã sống ly thân. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn. Về con chung: Có 04 con chung: Phạm Thị Ánh L, sinh ngày 07/10/1995, Phạm Văn L1, sinh ngày 05/01/1998, Phạm Văn L2, sinh ngày 22/01/2001 và Phạm Chí L3, sinh ngày 09/3/2004; các con đều đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Toà giải quyết. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không đến Toà cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vắng mặt.
Đại diện VKSND khu vực 15 – Đắk Lắk phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia phiên tòa và phiên tòa diễn ra đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Phạm Thị Ánh L, sinh ngày 07/10/1995, Phạm Văn L1, sinh ngày 05/01/1998, Phạm Văn L2, sinh ngày 22/01/2001 và Phạm Chí L3, sinh ngày 09/3/2004 đều đã trưởng thành và có khả năng lao động nên đề nghị không xem xét. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua kiểm tra các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ là ly hôn. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại: xã Đ, tỉnh Đắk Lắk theo quy định khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân khu vực 15 – Đắk Lắk thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên (cũ) được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 17 quyển số 01/2004 ngày 03/6/2004 nên xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu ly hôn; bị đơn vắng mặt không có ý kiến trình bày. Xét việc nguyên đơn trình bày nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn là do không còn tình cảm, đã sống ly thân phù hợp với Biên bản xác minh ngày 24/7/2025 tại Hội phụ nữ xã Đ, tỉnh Đắk Lắk.
Từ căn cứ trên có cơ sở kết luận quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ.
[4] Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 04 con chung: Phạm Thị Ánh L, sinh ngày 07/10/1995, Phạm Văn L1, sinh ngày 05/01/1998, Phạm Văn L2, sinh ngày 22/01/2001 và Phạm Chí L3, sinh ngày 09/3/2004. Xét các con chung đều đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0002104 ngày 08/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên (cũ).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tạ Thị S.
- - Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Tạ Thị S được ly hôn bị đơn Phạm Văn Đ.
- - Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 04 con chung: Phạm Thị Ánh L, sinh ngày 07/10/1995, Phạm Văn L1, sinh ngày 05/01/1998, Phạm Văn L2, sinh ngày 22/01/2001 và Phạm Chí L3, sinh ngày 09/3/2004. Xét các con chung đều đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Về tài sản chung: Đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.
- - Về án phí: Nguyên đơn Tạ Thị S phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0002104 ngày 08/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên (cũ).
Nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa BÀN THỊ TIÊN |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tạ Thị Sa xin ly hôn Phạm Văn Đóng
