|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-PT Ngày 28-10-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Đăng Huy
Các Thẩm phán: Ông Phạm Xuân Duy
Bà Trần Minh Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 21/2025/TLPT- HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Hải Phòng) có kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1962; số CCCD: 031062003273; nơi cư trú: T2 xã T, huyện V, thành phố H (nay là T2 xã V, thành phố H); có mặt.
- - Bị đơn: Bà Hoàng Lệ T, sinh năm 1966; số CCCD: 040166011579. Nơi ĐKHKTT: Xóm T, phường V, tỉnh NA (nay là xóm T, phường V, tỉnh NA); nơi ở hiện nay: T2 xã T, huyện V, thành phố H (nay là T2 xã V, thành phố H); có mặt.
- - Người kháng cáo: Bà Hoàng Lệ T là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung tóm tắt như sau:
Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Lê Văn H trình bày: Ông và bà Hoàng Lệ T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 11 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là phường V, tỉnh Nghệ An). Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm, lối sống và suy nghĩ, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không có tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra xung đột, cãi mắng nhau. bà T luôn nghi ngờ, và có những lời lẽ thiếu văn hóa, xúc phạm làm mất danh dự ông nhiều lần. Năm 2024, ông đã gửi đơn ly hôn đến Tòa án, được hòa giải, ông rút đơn ly hôn và vợ chồng trở về đoàn tụ. Từ tháng 11/2024 đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau, đối xử với nhau lạnh nhạt. Do mâu thuẫn nên ông bà mặc dù tuổi đã cao nhưng không thể tiếp tục chịu đựng nhau. Nay Ông H nhận thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn không thể khắc phục ông đã đề nghị Tòa án giải quyết cho ông bà được ly hôn.
Về con chung: Ông bà không có con chung.
Về tài sản chung: Ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại Bản tự khai, Biên bản hòa giải, bị đơn bà Hoàng Lệ T trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông H về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn., nguyên nhân mâu thuẫn, về con chung và tài sản chung. Quá trình chung sống, ông bà hòa thuận được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do ông H có quan hệ ngoại tình. Bà đã nhiều lần nhắc nhở ông nhưng ông H không thay đổi. Tháng 10 năm 2024, vợ chồng cãi nhau và ly thân nhau. Đến Tết năm 2025, vợ chồng lại về sống chung một nhà, nhưng một thời gian sau bà sinh sống ở quán thuê để bán hàng còn ông H vẫn sinh sống ở nhà. Ông H xin ly hôn với bà, bà không đồng ý.
Với nội dung trên, tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 7 – thành phố Hải Phòng) đã quyết định:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Lê Văn H được ly hôn bà Hoàng L T.
- Về con chung: Ông Lê Văn H và bà Hoàng Lệ T không có con chung nên không xem xét giải quyết
- Về tài sản chung: Ông Lê Văn H và bà Hoàng Lệ T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Hoàng Lệ T có đơn kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, không đồng ý ly hôn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Nguyên đơn ông Lê Văn H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Hoàng Lệ T
- - Bị đơn bà Hoàng Lệ T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đề nghị Tòa án chấp nhận kháng cáo của bà, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký cấp phúc thẩm đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa và tài liệu xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện mâu thuẫn vợ chồng ông H và bà T đã trầm trọng. Hiện nay, ông H bà T đã ly thân, không còn tình cảm với nhau. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Hoàng Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị đơn bà Hoàng Lệ T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án và sau khi tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn là bà Hoàng Lệ T có đơn kháng cáo. Xét kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng thụ lý, xét xử phúc thẩm vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Hoàng Lệ T không đồng ý ly hôn với ông Lê Văn H: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Quá trình chung sống giữa bà T và ông H có nhiều mâu thuẫn và không thể khắc phục, do tính cách không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, xúc phạm, nghi ngờ, không tin tưởng nhau. Mâu thuẫn giữa ông bà đã kéo dài và không cải thiện được. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2024 đến nay. Bản thân ông H khẳng định không còn tình cảm với bà T và ông không thể tiếp tục chung sống với bà T. Ông H muốn ly hôn với bà T để cuộc sống yên ổn. Bản thân bà T thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và sống ly thân, bà không muốn ly hôn với ông bởi lý do ông H đổ hết lỗi cho bà nghi ngờ ông H ngoại tình, gửi đơn thư làm mất danh dự của ông.
[3] Xét thấy: Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác minh thu thập chứng cứ là đầy đủ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T không cung cấp được chứng cứ mới; mặc dù nguyện
vọng của bà tha thiết mong muốn đoàn tụ nhưng cũng thừa nhận hôn nhân giữa hai bên không thực sự hạnh phúc, vợ chồng không có tiếng nói chung. Nhận thấy, một hôn nhân hạnh phúc phải xuất phát từ tình cảm của cả hai phía vợ và chồng cùng nhau xây dựng, vun đắp hạnh phúc. Tình cảm và mong muốn đoàn tụ của bà T là từ một phía, nhưng từ khi xét xử sơ thẩm đến nay bản thân bà không thể hiện những việc làm cụ thể, không có được giải pháp để hàn gắn tình cảm, quan hệ vợ chồng. Mâu thuẫn vợ chồng ông H bà T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Toà án cấp sơ thẩm quyết định cho ông H ly hôn với bà T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật phù hợp thực tế cuộc sống giữa ông H, bà T.
[4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Lệ T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn bà Hoàng Lệ T không được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 148, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Lệ T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Thành phố Hải Phòng).
- Về án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Bà Hoàng Lệ T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001955 ngày 16 tháng 7 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7 - Hải Phòng.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| Phạm Xuân Duy Trần Minh Phương | Bùi Đăng Huy |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Đăng Huy |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-PT ngày 28/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Văn H ly hôn và Hoàng Lệ T
