Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 202/2025/DS-ST

Ngày: 29-9-2025

“V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Lợi; Ông Trần Văn Chu.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lanh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 04/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 123/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 114/2025/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2025, giữa:

1. Nguyên đơn:

  1. Ông Lâm Văn Q, sinh năm 1989;
  2. Căn cước công dân số: [...];

  3. Bà Phạm Thanh T, sinh năm 1993;
  4. Căn cước công dân số: [...];

    Cùng địa chỉ: Ấp N, xã T, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1987;

Căn cước công dân số: [...];

Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn:

  1. Ông Hồ Văn C, sinh năm 1965;
  2. Căn cước công dân số: [...];

  3. Bà Lý Thị Lệ P, sinh năm 1970;
  4. Căn cước công dân số: [...];

    Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.

(Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 23/5/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lâm Văn Q, bà Phạm Thanh T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn D trình bày:

Tháng 5/2022, ông Lâm Văn Q và bà Phạm Thanh T được biết ông Hồ Văn C và bà Lý Thị Lệ P có nhu cầu bán các thửa đất số 371, 372 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên ông Q, bà T đến gặp ông C, bà P để hỏi mua. Hai bên đã lập hợp đồng đặt cọc viết tay thỏa thuận mua bán hai thửa đất trên với giá trị chuyển nhượng là 2.000.000.000 đồng. Ông Q, bà T có đặt cọc cho ông C, bà P 700.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ giao đủ khi thực hiện ký hợp đồng chuyển nhượng. Vì hai thửa đất trên chưa được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên các bên thỏa thuận cho ông C, bà P thời gian 180 ngày sau mới tiến hành chuyển nhượng để tạo điều kiện cho ông C, bà P thực hiện xong thủ tục cấp đổi. Tuy nhiên, đến hết hạn 180 ngày mà ông C, bà P vẫn chưa thực hiện xong thủ tục cấp đổi nên ông Q, bà T tiếp tục tạo điều kiện ký lại hợp đồng đặt cọc lần thứ hai với cùng một nội dung và thời hạn kéo dài thêm 180 ngày. Cứ như vậy, ông Q, bà T đã tạo điều kiện và điều chỉnh hợp đồng đặt cọc đến lần thứ tư (hợp đồng ghi ngày 22/10/2023), quá trình ký hợp đồng đặt cọc có sự chứng kiến của anh Triệu Văn T1 (sinh năm 1990, cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai). Từ đó đến nay đã quá hạn hợp đồng đặt cọc nhưng ông C, bà P vẫn chưa thực hiện thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để ký hợp đồng chuyển nhượng. Ông Q, bà T nhiều lần liên hệ nhưng ông C, bà P tìm nhiều lý do để trốn tránh, không có thiện chí tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Vì vậy, ông Q, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng đặt cọc ngày 22/10/2023; giải quyết hậu quả của việc hủy hợp đồng là buộc ông C, bà P trả lại cho ông Q, bà T số tiền đã đặt cọc là 700.000.000 đồng.

Do bận công việc nên người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 21/8/2025, bị đơn ông Hồ Văn C trình bày:

Ông và vợ là bà Lý Thị Lệ P có thỏa thuận bán cho ông Lâm Văn Q và bà Phạm Thanh T các thửa đất số 371, 372 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai với giá 2.000.000.000 đồng. Ông có nhận từ ông Q, bà T số tiền đặt cọc là 700.000.000 đồng, số tiền còn lại hai bên thỏa thuận khi nào làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất xong sẽ giao đủ. Tuy nhiên, do phía vợ chồng ông bà không thực hiện được việc chuyển đổi từ sổ đỏ sang sổ hồng nên chưa sang tên quyền sử dụng đất cho ông Q, bà T được.

Qua yêu cầu khởi kiện của ông Q, bà T thì vợ chồng ông bà cũng đồng ý trả lại cho ông Q, bà T số tiền đã nhận đặt cọc là 700.000.000 đồng nhưng hiện nay do hoàn cảnh khó khăn nên chưa thể trả ngay được. Khi nào có tiền, ông bà

sẽ trả lại cho ông Q, bà T.

Hiện nay, ông đang nuôi tôm công nghiệp, còn bà P cũng bận đi làm xa (thỉnh thoảng mới về) nên không thể đến Tòa án để tham gia tố tụng được. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt ông.

Đối với bị đơn bà Lý Thị Lệ P vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, xét yêu cầu của đương sự, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Ông Lâm Văn Q và bà Phạm Thanh T khởi kiện yêu cầu ông Hồ Văn C và bà Lý Thị Lệ P, cùng cư trú tại ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long phải có nghĩa vụ trả số tiền đã nhận đặt cọc.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định đây là vụ án về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” do Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

[1.2] Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn D và bị đơn ông Hồ Văn C vắng mặt tại phiên tòa, có yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Lý Thị Lệ P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét hợp đồng đặt cọc ngày 22/10/2023 giữa ông Lâm Văn Q với bà Lý Thị Lệ P có hình thức phù hợp với quy định của pháp luật; mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; chủ thể tham gia giao kết hợp đồng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và việc giao kết hoàn toàn tự nguyện. Căn cứ quy định tại các điều 116, 117, 118, 119,

401 của Bộ luật Dân sự năm 2015, có cơ sở xác định, hợp đồng đặt cọc ngày 22/10/2023 giữa ông Lâm Văn Q với bà Lý Thị Lệ P có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm giao kết và có giá trị ràng buộc đối với các bên.

[2.2] Thấy rằng, bên B (ông Lâm Văn Q) đặt cọc cho bên A (bà Lý Thị Lệ P) số tiền 700.000.000 đồng là để đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất các thửa đất số 371 và 372, cùng tờ bản đồ số 17, diện tích 2.300m², tọa lạc tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai). Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng, bên A không tiến hành thủ tục sang tên quyền sử dụng đất trong thời hạn thỏa thuận là vi phạm hợp đồng. Do đó, việc bên B khởi kiện yêu cầu bên A trả lại số tiền đặt cọc là có cơ sở.

Về phía bà Lý Thị Lệ P, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo về các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho bà P được biết, tại Thông báo về việc thụ lý vụ án số 04/TB-TLVA ngày 11/7/2025 của Tòa án (đã được cấp, tống đạt hợp lệ cho bà P) cũng có nội dung yêu cầu “Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Thông báo này, bị đơn... phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố... (nếu có)... Hết thời hạn này mà người được thông báo không nộp cho cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện thì Toà án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật” nhưng đến nay bà P vẫn không có bất kỳ ý kiến nào xem như bà mặc nhiên thừa nhận những chứng cứ này cũng như số tiền nợ đối với nguyên đơn.

Đối với ông Hồ Văn C, mặc dù theo hợp đồng đặt cọc ngày 22/10/2023, ông C không phải là một bên chủ thể tham gia giao kết nhưng tại Biên bản lấy lời khai ngày 21/8/2025, ông C thừa nhận ông và bà P có thỏa thuận chuyển nhượng các thửa đất số 371 và 372 nêu trên cho vợ chồng ông Q, bà T và vợ chồng ông, bà đã nhận của ông Q, bà T số tiền đặt cọc là 700.000.000 đồng. Như vậy, buộc ông C và bà P cùng có nghĩa vụ trả lại số tiền đã nhận đặt cọc là có cơ sở.

[2.3] Theo hợp đồng đặt cọc ngày 22/10/2023 thì bên đặt cọc chỉ có ông Lâm Văn Q, tuy nhiên, khi khởi kiện, bà T và ông Q cùng đứng tên với tư cách người khởi kiện. Xét thỏa thuận này của ông Q, bà T phù hợp với quy định tại Điều 28 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn Q và bà Phạm Thanh T về việc buộc bà Lý Thị Lệ P và ông Hồ Văn C phải có nghĩa vụ trả lại số tiền 700.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 27, Điều 28 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

Ghi nhận ông Lâm Văn Q, bà Phạm Thanh T không yêu cầu tính lãi đối với số tiền nêu trên.

[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải nộp: 20.000.000 đồng x 4% x (700.000.000 đồng – 400.000.000 đồng) = 32.000.000 đồng.

Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng các điều 116, 117, 118, 119, 328, 401, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Văn Q, bà Phạm Thanh T đối với bị đơn bà Lý Thị Lệ P, ông Hồ Văn C về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Buộc bà Lý Thị Lệ P, ông Hồ Văn C có nghĩa vụ trả cho ông Lâm Văn Q, bà Phạm Thanh T số tiền đã nhận đặt cọc là 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng.

Ghi nhận ông Lâm Văn Q, bà Phạm Thanh T không yêu cầu tính lãi đối với số tiền nêu trên.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Lý Thị Lệ P, ông Hồ Văn C phải nộp 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng.

Trả lại cho ông Lâm Văn Q, bà Phạm Thanh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.300.000 (mười sáu triệu ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0013533 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (nay là Phòng Thi hành án khu vực 8 – Đồng Nai).

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 8 – Vĩnh Long;
  • - THADS tỉnh Vĩnh Long;
  • - THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Long (Phòng GĐKT, TT&THA);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2025/DS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 202/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa ông Lâm Văn Q, bà Phạm Thị T với ông Hồ Văn C, bà Lý Thị Lệ P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger