|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày: 15-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Truyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Sĩ Thạo
Ông Trần Văn Nước
Thư ký phiên tòa: Bà Long Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 14 – Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 14 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Lâm Minh Khoa – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 14 – Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Hiếu N, sinh ngày 15/12/2002; tại tỉnh Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long).
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp R, xã H, tỉnh Vĩnh Long); nơi cư trú: ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp R, xã H, tỉnh Vĩnh Long); nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973 và bà Lý Thị H, sinh năm 1973; có vợ và chưa có con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/6/2025 cho đến nay; có mặt.
- Tiêu Chí H1, sinh ngày 29/11/2002; tại tỉnh Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long).
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp S, xã H, tỉnh Vĩnh Long); nơi cư trú: ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp S, xã H, tỉnh Vĩnh Long); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tiêu Văn T1, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1978 (chết); chưa có vợ và chưa có con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/7/2025 cho đến nay; có mặt.
2
- Bị hại: Bà Lâm Thị Mỹ N1, sinh năm 1969; trú tại: ấp L, xã N, tỉnh Vĩnh Long; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 13/5/2025 Nguyễn Hiếu N điều khiển xe mô tô biển số 84AD-064.55 đến nhà Tiêu Chí H1 ở ấp S, xã H, tỉnh Vĩnh Long để rủ H1 đi chơi. Sau đó N điều khiển xe chở H1 trên đường đi hướng xã N, tỉnh Vĩnh Long, trên đường đi N rủ Hửu tìm quán tạp hoá của người dân cặp ven đường không có người trực tiếp quản lý thì sẽ nhanh chống chiếm đoạt bia lên xe tẩu thoát, đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân thì H1 đồng ý.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, N điều khiển xe chở H1 đến quán tạp hoá của bà Lâm Thị Mỹ N1 ở ấp L, xã N, tỉnh Vĩnh Long. N thấy bà N1 đang đứng bán trước quán nên N ghé mua bánh mì và 02 chai nước giải khát, nhằm mục đích quan sát tìm tài sản là bia để chiếm đoạt. Do bà N1 đứng bán nên không thể tiếp cận lấy bia được nên N chạy qua khỏi quán khoảng 200m và dừng xe lại để bàn bạc với H1 tìm cách để lấy bia. N nói với H1 là “quay trở lại quán tạp hoá của bà N1 rồi giả vờ hỏi mua bia, khi bà N1 giao bia thì sẽ đưa ra thông tin gian dối là tiếp tục mua món đồ khác, để bà N1 quay trở vào quán lấy đồ sẽ tăng ga nhanh chóng tẩu thoát”, thì H1 đồng ý. Sau đó N quay xe lại cặp lề trái hướng đi, dừng xe trước quán tạp hoá của bà N1 (một bên bán bia, một bên bán thuốc lá, bánh kẹo), N và H1 cùng ngồi trên xe và tắt máy xe. Khi gặp bà N1 thì N nói “Dì ơi bán cho con 01 thùng bia lon nhãn hiệu Tiger”, bà N1 lấy thùng bia lon nhãn hiệu Tiger đem để trước ba ga trước xe mô tô. N quay ra sau hỏi H1 “còn mua gì nửa không”, H1 nói với bà N1 “Dì ơi bán cho con thêm 01 thùng bia lon, nhãn hiệu Sài Gòn xanh”, bà N1 tiếp tục lấy 01 thùng bia lon nhãn hiệu Sài Gòn xanh đem ra để chồng lên thùng bia lon, nhãn hiệu Tiger trên ba ga trước xe, N lấy thùng bia nhãn hiệu Sài Gòn xanh đưa ra phía sau cho H1 ôm. Lúc này bà N1 đứng đầu xe mô tô của N chờ tính tiền, thì N giả vờ nói với bà N1 “Dì ơi bán cho con gói thuốc Jet và một bịch đậu phọng”, vừa nói N vừa lùi đến trước quầy tạp hoá, bà N1 đi theo. Khi bà N1 vào chỗ tủ bán thuốc lá cách N và H1 khoảng 2,5m, thì N liền khởi động xe và tăng ga bỏ chạy về xã H, tỉnh Vĩnh Long, bà N1 liền chạy ra lộ la lên “chưa trả tiền, cướp, cướp”. Sau khi lấy được 02 thùng bia N và H1 đem bán cho bà Bùi Thị N2 ở ấp B, xã H, tỉnh Vĩnh Long với giá 540.000 đồng, N và H1 lấy tiền chia nhau tiêu xài.
3
Tại Công an xã T các bị cáo N và H1 thừa nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản là 02 thùng bia của bà N1. Quá trình điều tra đã chứng minh được N và H1 còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 25/5/2025 tại ấp M, xã V, tỉnh Vĩnh Long, nhưng không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, Chủ tịc Ủy ban nhân dân huyện C đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với N và H1 mỗi người 2.500.000 đồng, nhưng đến nay N và H1 vẫn chưa chấp hành.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số: 24/KL-HĐĐG ngày 11/6/2025 của Hội đồng định giá kết luận: giá trị tài sản bị xâm hại là 575.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 05/CT-VKS-HS ngày 15/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 14 – Vĩnh Long truy tố bị cáo Nguyễn Hiếu N và Tiêu Chí H1 về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Hiếu N và Tiêu Chí H1 thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi cướp giật tài sản như hành vi của bị cáo đã bị Cáo trạng của Viện kiểm sát mô tả và đã truy tố.
Kiểm sát viên luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hiếu N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tiêu Chí H1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, buộc bị cáo Nguyễn Hiếu N và Tiêu Chí H1 mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo không phát biểu ý kiến tranh luận. Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra thu thập được. Trên cơ sở đánh giá, xem xét toàn diện các chứng cứ có đủ căn cứ để kết luận: khoảng 14 giờ ngày 13/5/2025 tại quán tạp hoá của bà N1 ở ấp L, xã N, tỉnh Vĩnh Long, các bị cáo N và H1 lợi dụng sự sơ hở của bà N1 trong việc đem bia ra bán cho các bị cáo, nhưng các bị cáo không tính tiền, bị cáo
4
H1 ngồi sau xe và bị cáo N điều khiển xe tăng ga để nhanh chóng tẩu thoát chiếm đoạt tài sản của bà N1, tài sản các bị cáo chiếm đoạt có giá trị 575.000 đồng.
[2] Các bị cáo N và H1 đều là người có năng lực hành vi hình sự đầy đủ, nhận biết việc thực hiện hành vi cưới giật cắp tài sản là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên vì lòng tham các bị cáo đã thực hiện hành vi tiếp cận tài sản của bà N1 để nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chống tẩu thoát. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 575.000 đồng. Như vậy hành vi của các bị cáo N và H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; hành vi của bị cáo không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, làm mất trật tự xã hội tại địa phương, tài sản các bị cáo chiếm đoạt 575.000 đồng. Do đó cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đồng phạm giản đơn, bị cáo Nghĩa là người rủ rê bị cáo H1 thực hiện hành vi cướp giật tài sản và chính bị cáo Nghĩa là người điều khiển xe chở bị cáo H1 đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản và tìm nơi tiêu thụ tài sản là người có vai trò chính. Đối với bị cáo H1 là người có vai trò tích cực và thống nhất cùng bị cáo N thực hiện hành vi cướp giật tài sản.
[5] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo N và H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo N tự nguyện tác động gia đình để bồi thường thiệt hại và có người thân tham gia cách mạng. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo N theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị cáo H1 theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo N và H1 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
5
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hiếu N và Tiêu Chí H1 phạm tội “Cướp giật tài sản”
Căn cứ khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiếu N 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù của bị cáo Nguyễn Hiếu N được tính từ ngày tạm giam 27/6/2025.
Căn cứ khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tiêu Chí H1 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù của bị cáo Tiêu Chí H1 được tính từ ngày tạm giam 18/7/2025.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q. Buộc bị cáo Nguyễn Hiếu N và Tiêu Chí H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Truyền |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 15/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – VĨNH LONG về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Hiếu N và Tiêu Chí H1 phạm tội “Cướp giật tài sản” Căn cứ khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiếu N 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù của bị cáo Nguyễn Hiếu N được tính từ ngày tạm giam 27/6/2025. Căn cứ khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tiêu Chí H1 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù của bị cáo Tiêu Chí H1 được tính từ ngày tạm giam 18/7/2025. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q. Buộc bị cáo Nguyễn Hiếu N và Tiêu Chí H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ
