|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HSST Ngày 18 tháng 11 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Minh Nam.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà NguyễnThị Thiệp.
- Bà Lê Thị Hồng Vinh.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 18/11/2025. Tại TAND khu vực 7 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST-HS, ngày 24/10/2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 06/11/2025 đối với bị cáo.
Trịnh Công S, sinh năm 2000; Nơi ĐKHKTT: thôn Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn H; Và bà Hoàng Thị H1 (đã chết); Gia đình có 03 anh, chị em, bản thân là thứ nhất; Vợ, con chưa có; Tiền án; Tiền sự: Không;
Tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2025 đến nay có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1992 (có mặt).
Trú tại: Xóm C, tiểu khu B, xã M, tỉnh Sơn La.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Anh Phạm Ngọc Đ, sinh năm 1981 (xin vắng mặt).
Trú tại: S, tổ dân phố A, phường Đ, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.
Trịnh Công S, sinh năm 2000 trú tại thôn Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ. Ngày 14/6/2025, S đến Công ty TNHH G – Địa chỉ: Khu công nghiệp N, phường N, tỉnh Bắc Ninh làm công nhân thời vụ và được Công ty xắp xếp ở tại P Tòa nhà A Khu K tại thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Ở cùng Phòng 307 có anh Phạm Văn T, sinh năm 1992 trú tại tiểu khu B, xã M, tỉnh Sơn La. Trong quá trình sinh hoạt, S phát hiện anh T có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, sơn màu đen vàng hồng, biển số 26K1-203.40 nên nảy sịnh ý định trộm cắp mang bán lấy tiền tiêu sài cá nhân.
Ngày 01/7/2025, anh T và S không phải đi làm nên nghỉ ngơi tại Phòng 307. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, S ngủ dậy thì phát hiện anh T để 01 chiếc ví da màu đen và chiếc chìa khóa điện (loại khóa smartkey) của xe mô tô ở đầu giường, gần gối ngủ của anh T. Thấy anh T đang ngủ say nên S đi đến dùng tay trái lấy chiếc chìa khóa điện rồi đút vào túi quần phía trước bên trái S đang mặc. Sau đó, S cầm chiếc ví da màu đen để tìm tiền nhưng không có tiền nên S đã lấy 01 vé gửi xe của chiếc xe mô tô biển số 26K1-203.40, 01 Giấy phép lái xe và 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 26K1-203.40 đều mang tên anh Phạm Văn T. Sau đó, S để chiếc ví lại vị trí cũ rồi đi xuống khu để xe của Ký túc xá. Tại đây, S tìm và dắt chiếc xe mô tô biển số 26K1-203.40 qua cổng bảo vệ. S đưa chiếc vé gửi xe cho bảo vệ kiểm tra. Sau khi kiểm tra thấy đúng thông tin nên bảo vệ đã đồng ý cho S lấy chiếc xe trên. Sau khi lấy được xe, S điều khiển đi đến Cửa hàng mua bán xe máy tại số A Đường L, phường L, Thành phố Hà Nội do anh Phạm Ngọc Đ, sinh năm 1981 trú tại S3.02 Tổ dân phố A, phường Đ, Thành phố Hà Nội làm chủ. Tại đây, S gặp và đặt vấn đề bán chiếc xe mô tô biển số 26K1-203.40 cho anh Đ. Anh Đ kiểm tra và hỏi nguồn gốc của xe thì S nói là xe của S, do cần tiền nên muốn bán. Anh Đại đồng Ý mua chiếc xe trên với giá 22.000.000đ. Sau đó, S viết giấy bán xe cho anh Đ. Anh Đ đưa cho S 4.000.000đ tiền mặt và chuyển khoản 18.000.000đ còn lại vào tài khoản số 7578866666 mở tại Ngân hàng TMCP K của S. Sau khi bán được xe, S đã rút toàn bộ số tiền 18.000.000đ ra khỏi tài khoản ngân hàng và tiêu sài cá nhân hết số tiền bán xe có được.
Anh Phạm Văn T sau khi ngủ dậy phát hiện bị mất chiếc xe mô tô biển số 26K1-203.40 thì đến ngày 08/8/2025 đã đến Công an xã T, tỉnh Bắc Ninh trình báo sự việc.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 75/KL- HĐĐGTS ngày 18/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh kết luận:
“Giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, sơn màu đen vàng hồng, biển số 26K1-203.40 tại thời điểm ngày 01/7/2025 là 22.000.000 đồng”.
Với nội dung trên tại bản cáo trạng số 05 ngày 23/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh đã truy tố Trịnh Công S về tội " Trộm cắp tài sản " theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Trịnh Công S khai nhận ngày 01/7/2025 tại khu nhà để xe khu ký túc xá Viglacera tại thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh bị cáo đã lợi dụng sơ hở để trộm cắp của anh Phạm Văn T chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, sơn màu đen vàng hồng, biển số 26K1-203.40 anh T gửi ở nhà để xe. Sau khi trộm cắp được tài sản bị cáo mang bán cho anh Phạm Ngọc Đ được 22.000.000 đồng, số tiền này bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản ” là đúng.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận về vụ án và giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị HĐXX.
Tuyên bố bị cáo Trịnh Công S phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2025.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 BLHS; Điều 589, 595, 597 BLDS. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Văn T giá trị chiếc xe là 22.000.000đ. Lưu theo hồ sơ vụ án 01 giấy viết tay giấy bán xe giữa bị cáo và anh Phạm Ngọc Đ do anh Đ giao nộp; 01 đĩa CD ghi ân hỏi cung bị cáo.
Bị cáo nhận tội, nhất trí với phần kết luận và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Người bị hại là anh Phạm Văn T nhất trí với luận tội của đại diện VKS và không tham gia tranh luận với đại diện VKS.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.
[ 1 ] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 2 ] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay là có căn cứ và phù hợp với đơn trình báo và lời trình bày của người bị hại, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, kết luận định giá tài sản, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ được công khai và tranh tụng tại phiên tòa thấy đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trịnh Công S phạm tội "Trộm cắp tài sản". Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
[ 3 ] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp tới quyền sử hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo chẳng những gây thiệt hại về vật chất cho anh T mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, tạo tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân nhất là các công nhân hiện đang lao động và làm việc tại khu, cụm công nghiệp. Xét thấy cần xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[ 4 ] Xét nhân thân và thái độ của bị cáo HĐXX nhận thấy. Bị cáo xuất thân từ gia đình con em lao động, được gia đình nuôi cho ăn học đến lớp 12/12 nhưng bị cáo lại không coi đây là môi trường giáo dục tốt để tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành có ích cho gia đình và xã hội. Với bản chất thích ăn chơi, lười lao động và để có tiền nhằm thỏa mãn cho những nhu cầu ích kỷ của bản thân ngày 01/7/2025 tại khu nhà để xe khu ký túc xá Viglacera tại thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh bị cáo đã lợi dụng sơ hở để trộm cắp của anh Phạm Văn T chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, sơn màu đen vàng hồng, biển số 26K1-203.40 trị giá 22.000.000đ. Sau khi trộm cắp được tài sản bị cáo mang bán cho anh Phạm Ngọc Đ được 22.000.000 đồng, số tiền này bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết. Hành vi phạm tội của bị cáo chẳng những gây thiệt hại về vật chất cho anh T mà còn thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Xét thấy cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt cho xã hội. Song khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì xét thấy sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú, tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo vì xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập và tài sản riêng.
[ 5 ] Đối với anh Phạm Ngọc Đ là người đã mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, sơn màu đen vàng hồng, biển số 26K1-203.40 bị cáo trộm cắp của anh T với giá 22.000.000đ. Sau khi mua anh Đ đã bán chiếc xe trên cho một người không quen biết. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng đến nay chưa thu hồi được. Song xét thấy khi mua anh Đ không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra Công an tỉnh B không xử lý anh Đ về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp.
[ 6 ] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Phạm Văn T trình bày ngày 01/7/2025 anh có bị mất chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, sơn màu đen vàng hồng, biển số 26K1-203.40 anh để tại nhà để xe của khu K tại thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Anh có nghi ngờ Trịnh Công S là người ở cùng phòng với anh là người đã trộm cắp chiếc xe trên và đã trình báo cơ quan Công an. Về trách nhiệm dân sự anh yêu cầu Toà án buộc bị cáo Trịnh Công S phải bồi thường cho anh giá trị chiếc xe là 22.000.000đ, đối với các giấy tờ bị mất anh không yêu cầu. Về trách nhiệm hình sự anh đề nghị Toà xử theo quy định của pháp luật.
[ 7 ] Về vật chứng: Đối với 01 giấy viết tay giấy bán xe giữa bị cáo và anh Phạm Ngọc Đ do anh giao nộp được lưu theo hồ sơ vụ án là phù hợp.
[ 8 ] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trịnh Công S phạm tội " Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, Điều 329 BLTTHS xử phạt.
Trịnh Công S 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2025.
Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/11/2025.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiện dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 585, 587, 589 BLDS. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Văn T số tiền là 22.000.000đ.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án nếu người phải thi hành án không tự giác thi hành thì còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 BLDS năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án lệ phí.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST và 1.100.000đ án phí DSST.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 BLTTHS.
Bị cáo, người bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc ngày niêm yết kết quả bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp phần trách nhiệm dân sự của bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
CÁC HỘI THẨM |
T/P - Chủ toạ phiên toà |
|
Nguyễn Thị Thiệp – Lê Thị Hồng Vinh |
Chu Minh Nam |
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Chu Minh Nam |
Bản án số 20/2025/HSST ngày 18/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 20/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Công S phạm tội "Trộm cắp tài sản"
