Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/DS-ST

Ngày 21 - 11 - 2025

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Thắng
  2. Ông Nguyễn Ngọc Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Loan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Tạ Phong Linh - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 37/2025/TLST-TCDS ngày 20 tháng 8 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXX-TCDS ngày 05/9/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ

Địa chỉ: T, số A T, phường H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L - Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Thanh H - Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ - chi nhánh B

Người được uỷ quyền lại: ông Nguyễn Thế H1 - Chuyên viên QLKH phòng KHCN Ngân hàng TMCP Đ - chi nhánh B.

2. Bị đơn: Ông Phạm Công T - sinh năm: 1969 và bà Phạm Thị D - sinh năm: 1975

Cùng trú tại: thôn T, xã P, tỉnh Quảng Trị.

Tại phiên toà, Nguyên đơn và Bị đơn vắng mặt (Nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung Đơn khởi kiện đề ngày 01/8/2025, Bản tự khai đại diện cho nguyên đơn trình bày:

Ông Phạm Công T và bà Phạm Thị D đã ký với Phòng G - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng B1) theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/6510916/HĐTD ngày 14/12/2022 để vay số tiền 295.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi lăm triệu đồng); Thời hạn vay: 60 tháng, kể từ ngày 14/12/2022 đến ngày 14/12/2027; Mục đích vay: Tiêu dùng.

Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của mình, ông Phạm Công T và bà Phạm Thị D đã thế chấp tại Ngân hàng tài sản là 01 Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 663869, số vào sổ cấp GCN: CS11468 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 19/04/2019; Ngày 06/06/2019, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q xác nhận: Chuyển nhượng cho ông Phạm Công T - CMND số [...] và vợ là bà Phạm Thị D - CMND số [...]. Địa chỉ tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Theo hồ sơ số 1558950144311/CN theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2020/6510916/HĐBĐ ký ngày 20/04/2020 ký giữa ông Phạm Công T và bà Phạm Thị D với Ngân hàng TMCP Đ, đơn vị trực tiếp quản lý khách hàng: Phòng G - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B; được chứng thực tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, số chứng thực 107, quyển số 01/2020 SCT/HĐ,GD và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q, quyển số 01, số thứ tự 158136697459 ngày 20/04/2020 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2020/6510916/HĐTC ký ngày 22/04/2020 ký giữa ông Phạm Công T và bà Phạm Thị D với Ngân hàng TMCP Đ, đơn vị trực tiếp quản lý khách hàng: Phòng G - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B được chứng thực tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, số chứng thực 116, quyển số 01/2020 SCT/HĐ,GD theo đúng quy định của pháp luật và B1.

Kể từ ngày tạm tính số dư nợ tại đơn khởi kiện (ngày 01/08/2025), ông Phạm Công T và bà Phạm Thị D đã trả tổng số tiền nợ là 54.072.565 đồng (Trong đó: nợ gốc 33.484.775 đồng; nợ lãi 20.125.834 đồng; phí trả chậm: 461.956 đồng), cụ thể như sau: Ngày 15/8/2025 trả 5.874.012 đồng (trong đó, nợ gốc: 3.484.775 đồng, nợ lãi: 2.389.237 đồng); Ngày 15/09/2025 trả 13.838.133 đồng (trong đó, nợ gốc: 10.000.000 đồng, nợ lãi: 3.838.133 đồng); Ngày 25/09/2025 trả nợ lãi 42 đồng; Ngày 26/09/2025 trả 20.959.036 đồng (trong đó, nợ gốc: 10.000.000 đồng, nợ lãi: 10.497.080 đồng, phí trả chậm: 461.956 đồng); Ngày 15/10/2025 trả 11.670.877 đồng (trong đó, nợ gốc: 10.000.000 đồng, nợ lãi: 1.670.877 đồng); Ngày 17/11/2025 trả nợ lãi 1.730.465 đồng.

Trong quá trình quan hệ tín dụng tại Ngân hàng, ông Phạm Công T và bà Phạm Thị D đã không thực hiện đúng các thỏa thuận, cam kết tại các Hợp đồng tín dụng ký với Ngân hàng TMCP Đ và để phát sinh nợ quá hạn (Thời điểm phát sinh nợ quá hạn tại Ngân hàng là ngày 15/01/2025). Hiện dư nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/11/2025) là: 220.209.753 đồng (Hai trăm hai mươi triệu hai trăm lẻ chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng). Trong đó: Nợ gốc: 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng); nợ lãi: 209.753 đồng (Hai trăm lẻ chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng); phí trả chậm: 0 đồng.

Vì vậy, Ngân hàng B1 khởi kiện đến Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị yêu cầu buộc ông T, bà D phải thanh toán cho Ngân hàng B1 toàn bộ số tiền nợ nói trên và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 22/11/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ vay cho Ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp ông T, bà D không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng B1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi toàn bộ số nợ cho ngân hàng. Trường hợp sau khi xử lý hết tài sản bảo đảm nêu trên mà vẫn không thu đủ nợ cho Ngân hàng thì ông T, bà D còn phải có trách nhiệm tiếp tục trả nợ số tiền còn lại cho Ngân hàng.

Về phía bị đơn ông Phạm Công T và bà Phạm Thị D: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập đến hòa giải cho ông T, bà D nhiều lần nhưng ông T, bà D đều vắng mặt không rõ lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Đối với bà D, Toà án đã đến gặp trực tiếp để lấy lời khai, tại biên bản lấy lời khai, bà cho biết: Bà và ông T có thực hiện vay vốn tại Ngân hàng B1 theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/6510916/HĐTD ký ngày 14/12/2022 với số tiền gốc là 295.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, ông bà đã thế chấp tài sản bảo đảm là 01 Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 550, tờ bản đồ 60 tại thôn T, xã P, tỉnh Quảng Trị. Quá trình vay, ông bà đã thực hiện trả nợ dần cho Ngân hàng, hiện số tiền còn nợ cả gốc lẫn lãi tính đến ngày 06/7/2025 là 266.218.928 đồng, trong đó nợ gốc là 253.484.775 đồng và số tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, ông bà có nguyện vọng đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện về mặt thời gian để phối hợp trả nợ dần, việc này đã được cả hai vợ chồng ông bà cùng thống nhất.

Theo kết quả xác minh do Phòng Q Công an tỉnh Q cung cấp: Ông Phạm Công T hiện chưa có thông tin xuất nhập cảnh trên hệ thống.

Theo kết quả xác minh tại Công an xã P, tỉnh Quảng Trị cho thấy: Ông Phạm Công T và bà Phạm Thị D đều có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã P, tỉnh Quảng Trị. Hiện ông T và bà D vẫn đều đang có mặt tại địa phương.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Ông Phạm Công T và bà Phạm Thị D đã được triệu tập hợp lệ 02 lần đến tham gia phiên tòa vào các ngày 22/9/2025 và ngày 21/11/2025 nhưng ông T, bà D vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ và Bị đơn ông T, bà D.

- Về nội dung: Thấy rằng yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 116, 117, 299, 317, 319, 320, 322, 398, 401, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; các Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; các Điều 147, 157, 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông T, bà D phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B1 tính đến ngày 21/11/2025 với tổng số tiền là: 220.209.753 đồng (Hai trăm hai mươi triệu hai trăm lẻ chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng). Trong đó: Nợ gốc: 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng); nợ lãi: 209.753 đồng (Hai trăm lẻ chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng); phí trả chậm: 0 đồng.

Trong trường hợp bị đơn không trả được nợ thì đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng BIDV theo quy định của pháp luật. Buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí và chi phí tố tụng theo quy định. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ông Phạm Công T, bà Phạm Thị D ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2022/6510916/HĐTD ngày 14/12/2022 với Ngân hàng TMCP Đ là hợp pháp, phù hợp theo quy định tại Điều 398 Bộ luật Dân sự, mục đích vay vốn để tiêu dùng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T, bà D đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp trên là tranh chấp về dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Ông Phạm Công T, bà Phạm Thị D có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã P, tỉnh Quảng Trị. Vì vậy, theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông T, bà D mặc dù đã được Tòa án triệu tập và niêm yết giấy triệu tập đến phiên tòa hai lần vào các ngày 22/9/2025 và 21/11/2025, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Phạm Công T và bà Phạm Thị D vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, cần căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án vắng mặt Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ và Bị đơn ông Phạm Công T và bà Phạm Thị D.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:

Theo yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của phía nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định:

Giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Phạm Công T, bà Phạm Thị D đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2022/6510916/HĐTD ngày 14/12/2022. Để bảo đảm cho khoản vay này, ông T, bà D đã thế chấp cho Ngân hàng 01 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2020/6510916/HĐBĐ ký ngày 20/04/2020 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2020/6510916/HĐTC ký ngày 22/04/2020. Việc ký kết các hợp đồng này giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung đều tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 119 của Bộ luật Dân sự nên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng.

Thực hiện Hợp đồng phía Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền vay cho ông T, bà D, tuy nhiên phía ông T, bà D lại không thực hiện đúng cam kết về việc trả nợ cho ngân hàng, đã để khoản vay quá hạn, thời điểm phát sinh nợ quá hạn tại Ngân hàng là ngày 15/01/2025. Theo các tài liệu, chứng cứ do phía Ngân hàng cung cấp thì tính đến ngày 21/11/2025, ông T, bà D còn dư nợ tại Ngân hàng với tổng số tiền là 220.209.753 đồng (Hai trăm hai mươi triệu hai trăm lẻ chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng). Trong đó: Nợ gốc: 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng); nợ lãi: 209.753 đồng (Hai trăm lẻ chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng); phí trả chậm: 0 đồng. Nên việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T, bà D trả nợ là có cơ sở.

[3] Từ những phân tích, nhận định trên thấy việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ tiền gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết là có căn cứ, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và đề nghị của kiểm sát viên buộc bị đơn ông T, bà D phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 21/11/2025 là 220.209.753 đồng (Hai trăm hai mươi triệu hai trăm lẻ chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng). Trong đó: Nợ gốc: 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng); nợ lãi: 209.753 đồng (Hai trăm lẻ chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng); phí trả chậm: 0 đồng.

[4] Về chi phí tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng, Ngân hàng đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 6.000.000 đồng; quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ đã chi phí hết; Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông T, bà D phải chịu toàn bộ khoản chi phí này theo quy định tại Điều 157, Điều 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Theo đó, buộc ông T, bà D có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 6.000.000 đồng.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng B1 được chấp nhận nên ông T, bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn Ngân hàng B1 theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; các Điều 116, 117, 119, 299, 317, 318, 319, 320, 322, 398, 401, 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ: buộc ông Phạm Công T, bà Phạm Thị D phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền còn nợ tính đến ngày 21/11/2025 là 220.209.753 đồng (Hai trăm hai mươi triệu hai trăm lẻ chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng). Trong đó: Nợ gốc: 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng); nợ lãi: 209.753 đồng (Hai trăm lẻ chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng); phí trả chậm: 0 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (22/11/2025) trở đi, ông Phạm Công T, bà Phạm Thị D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng cho vay hạn mức, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Trường hợp ông T, bà D không trả được toàn bộ số nợ thì Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ số nợ, cụ thể: 01 quyền sử dụng đất số thửa 550, tờ bản đồ số 60 tại thôn T, xã P, tỉnh Quảng Trị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 663869, số vào sổ cấp GCN: CS11468 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 19/04/2019; Ngày 06/06/2019, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q xác nhận: Chuyển nhượng cho ông Phạm Công T và bà Phạm Thị D, cùng tài sản gắn liền với thửa đất nói trên là 02 ngôi nhà cấp 4, mái lợp tồn, có 01 nhà bếp mái lợp tồn đã xuống cấp (Có sơ đồ thửa đất kèm theo bản án).

  2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phạm Công T và bà Phạm Thị D có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
  3. Về án phí:
    • - Buộc ông Phạm Công T, bà Phạm Thị D phải nộp 11.010.488 đồng (Mười một triệu không trăm mười nghìn bốn trăm tám mươi tám đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
    • - Trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí 6.655.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng) mà Ngân hàng TMCP Đ đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000152 ngày 15/8/2025.

    Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - THADS tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND khu vực 3, T.Quảng Trị;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Hữu Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/DS-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 20/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng TMCP Đ và Phạm Công T, Phạm Thị D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger