|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-HÀ NỘI Bản án số: 198/2025/HS-ST. Ngày: 03-12-2025. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Lân.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1, Bà Hoàng Thị An.
- 2, Ông Nguyễn Năng Tấn.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kha – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Lập Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 206/2025/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN THỊ T, sinh năm 1988, tại Hà Nội; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã N, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Đ (SN 1954); Con bà Phạm Thị C (SN 1956) Có chồng là nguyễn Ngọc H (SN 1986, đã ly hôn); Có 02 con, lớn 17 tuổi, nhỏ 13 tuổi; Theo D bản, chỉ bản số 4298 lập ngày 19 tháng 09 năm 2025 của Công an thành phố H bị cáo có 01 tiền án: Ngày 12/12/2017, Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Trộm cắp tài sản” (Đã được xoá án tích), bị cáo không có tiền sự; Tạm giữ: Từ ngày 11/09/2025 đến ngày 20/09/2025; Tạm giam: Từ ngày 20/09/2025 đến nay, tại Trại tạm giam số 1 - Hà Nội. SG: 5379G2/M1. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1991; Trú tại: Thôn X, xã Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1995; Trú tại: Thôn D, xã S, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi chiều ngày 10/09/2025, Nguyễn Thị T, sinh năm 1988, trú tại B, xã N, Hà Nội điều khiển xe mô tô từ nhà lên xã Y, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đến thôn P, xã Đ, thành phố Hà Nội, T dừng xe vào quán nước của chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1991, trú tại thôn X, xã Đ, Hà Nội để mua nước mang đi. Thúy quan sát thấy 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh, dung lượng 128GB trên bàn inox tại quán. Lợi dụng lúc chị S đang pha nước không chú ý, T lén lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi xách, sau đó cầm nước rời đi. Sau khi lấy được điện thoại, T gọi điện cho anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1995, trú tại thôn D, xã S, Hà Nội là người làm nghề mua bán điện thoại. T nói dối anh Q là có điện thoại cần bán, nhưng bị mất mật khẩu icloud. Anh Q đồng ý mua với giá 1.800.000 đồng, hẹn giao dịch tại xã Y, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 23 giờ cùng ngày, anh Q đến điểm hẹn tại Y lấy điện thoại và sử dụng số tài khoản 8899887799, Ngân hàng T1 của mình chuyển 1.800.000 đồng đến số tài khoản 19021497786019, Ngân hàng T1 của T. Sau khi phát hiện điện thoại bị mất, kiểm tra camera của quán xác định bị T trộm cắp, ngày 11/09/2025, chị S đến Công an xã Đ sự việc. Biết việc trộm cắp tài sản đã bị phát hiện, ngày 12/09/2025, T đến Công an xã Đ đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1516/KL-HĐĐGTS ngày 16 tháng 09 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hà Nội kết luận: Giá trị 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu xanh dung lượng 128 GB là 11.066.666 đồng.
- Về thu giữ vật chứng, xử lý vật chứng: Thu giữ của anh Nguyễn Văn Q 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh dương; Thu giữ của Nguyễn Thị T 01 chiếc điện thoại Oppo A78 màu xanh.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh dương là tài sản hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị S. Ngày 01/10/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho chị S theo quy định của pháp luật.
Đối anh Nguyễn Văn Q là người mua chiếc điện thoại do T trộm cắp, anh Q không biết chiếc điện thoại do T trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Văn Q và không yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và xác định: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 10/09/2025, tại quán nước của chị Nguyễn Thị S, ở thôn X, xã Đ, thành phố Hà Nội, bị cáo đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh dương của Nguyễn Thị S có trị giá 11.066.666 đồng mang đi bán cho anh Nguyễn Văn Q lấy tiền tiêu sài cá nhân. Bị cáo
biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật và xin hứa sửa chữa để được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước.
Bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 06/11/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 17 giờ ngày 10/09/2025, tại quán nước của chị Nguyễn Thị S thuộc thôn X, xã Đ, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị T đã thực hiện hành vi trộm cắp của chị Nguyễn Thị S chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh dương có trị giá 11.066.666 đồng mang đi tiêu thụ. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Về hình phạt chính: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- + Về dân sự: Không phải giải quyết.
- + Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 1.800.000 đồng có được do phạm tội mà có vào ngân sách nhà nước; Tịch thu vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Oppo A78 thu giữ của bị cáo.
- + Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mặt khác, còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Hành vi bị cáo lén lút trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị S là 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh dương có trị giá 11.066.666 đồng mang đi tiêu thụ, đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng
do ý thức coi thường pháp luật, trật tự kỷ cương xã hội, lười lao động và tham lam tư lợi nên bị cáo vẫn cố tình phạm tội.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[2.1. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[2.2]. Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai tội, ăn năn hối cải; Sau khi biết vụ việc bị phát hiện, bị cáo đã chủ động đến đầu thú tại Công an xã Đ là những căn cứ để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.3]. Về áp dụng hình phạt: Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản cho thấy bị cáo không chịu sửa chữa sai lầm, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc và cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và góp phần vào đấu tranh, phòng ngừa chung.
[3]. Về hình phạt bổ sung:
Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và kinh tế khó khăn nên không phạt tiền bị cáo.
[4]. Về dân sự:
- - Bị hại trong vụ án là chị Nguyễn Thị S có lời khai xác định: Tài sản của chị bị Nguyễn Thị T trộm cắp là chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh dương có trị giá theo kết luận của cơ quan định giá là 11.066.666 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu hồi và trao trả lại cho chị chiếc điện thoại trên, không bị thiệt hại gì. Chị không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là anh Nguyễn Văn Q khai: Ngày 10/09/2025, anh có mua của Nguyễn Thị T 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh dương với giá 1.800.000 đồng nhưng không biết đó là tài sản do T trộm cắp được mà có. Anh đã tự nguyện nộp lại chiếc điện thoại này cho Cơ quan điều tra để trả lại cho bị hại. Do bị cáo đang bị giam giữ, điều kiện kinh tế khó khăn nên anh không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho anh số tiền trên. Xét quan điểm đó của anh Q là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với pháp luật nên được ghi nhận.
Như vậy, về phần dân sự trong vụ án này không phải đặt ra giải quyết.
[5]. Về vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại Oppo A78 màu xanh thu giữ của Nguyễn Thị T được xác định là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nay tịch thu vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.
[8]. Quan điểm về việc giải quyết toàn bộ vụ án của Viện kiểm sát về cơ bản là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Về hình phạt chính: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo NGUYỄN THỊ T 07 (Bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/09/2025.
- + Về hình phạt bổ sung: Không phạt tiền bị cáo.
- + Về dân sự: Không phải giải quyết.
- + Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A78 màu xanh, bên trong lắp sim số thuê bao 0973.874.310 (Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/11/2025 giữa Công an thành phố H và Thi hành án dân sự thành phố H).
- + Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
- + Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Chị Nguyễn Thị S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ; Anh Nguyễn Văn Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ về phần dân sự có liên quan.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Ngọc Lân |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Bản án số 198/2025/HS-ST ngày 03/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 198/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Th trppmj cắp của chị Nguyễn Thị S 01c điện thoại trị giá 11.066.666 đồng
