Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 197/2025/DS-ST

Ngày: 21/10/2025

“V/v Tranh chấp dân sự về đòi

lại tài sản là quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Đạt

2. Bà Lê Thị Bích Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Cường là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Linh - Kiểm sát viên.

Trong hai ngày 16 và ngày 21 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2021/TLST-DS, ngày 23 tháng 4 năm 2021, về việc “Tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2025/QĐXXST-DS, ngày 15 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 69/2025/QĐ-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1958, có mặt.

Bà Phạm Thị V, sinh năm 1959, có mặt.

Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã K, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Đoàn Văn H, sinh năm 1965, có mặt.

Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965, có mặt.

Cùng địa chỉ: Ấp R, phường T, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Bé T, sinh năm 1972, vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã K, tỉnh An Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Huỳnh Tài Đ1 – Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K, có mặt.

Địa chỉ: Số D, khu phố T, phường H, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, những lời khai tại Tòa của nguyên đơn bà Phạm Thị V và ông Nguyễn Hoàng N trình bày như sau:

Vào năm 1975 gia đình ông bà và một số hộ dân khác có về cất nhà ở tại tổ A, ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang) và sinh sống đến năm 1995 thì Nhà nước thu hồi đất để quản lý (vì không có giấy tờ hợp pháp). Sau đó do gia đình ông bà có canh tác và thành quả lao động nên gia đình ông bà được Nhà nước cấp lại một phần đất ở có diện tích là 1909,9m², tọa lạc tại tổ A, ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang) theo Thông báo số 15 ngày 8/3/1996 của Ủy ban nhân dân huyện H và Quyết định số 1228/QĐ-UB ngày 28/10/1996 Ủy ban nhân dân tỉnh K. Nay gia đình ông bà được Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 350493 ngày 15/4/2020 cho bà Phạm Thị V đứng tên. Ông Đoàn Văn H có ở nhờ trên phần đất của bà Tiết Thị Mỹ D đến năm 2010 bà D lấy phần đất cho ông H ở nhờ để sang nhượng lại cho người khác và bà D có hỗ trợ cho ông H tiền di dời là 4.000.000đồng. Trong lúc đó gia đình ông N bà V thấy ông H không có nơi ở, hoàn cảnh khó khăn và sự vận động hỗ trợ của Ban lãnh đạo ấp về việc cho ông H ở nhờ trên phần đất của gia đình ông N bà V có chiều ngang 4m chiều dài 17,5m tổng diện tích là 70m², tại tổ A, ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang). Thỏa thuận gia đình ông bà cho ông H ở nhờ trên phần đất là 10 năm có sự chứng kiến của Ban lãnh đạo ấp B. Khi ông H có nơi ở mới tại xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (nay là phường T, tỉnh An Giang) thì vợ ông H là bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu gia đình bà V lấy nhà và giao lại giá trị căn nhà cho ông H số tiền 60.000.000đồng nhưng gia đình bà V không đồng ý vì không đủ điều kiện. Nay hết thời gian thỏa thuận cho ở nhờ gia đình bà V lấy lại đất thì ông H không trả mà ông H còn khai đất là do ông H khai phá và gia đình bà V đã làm đơn gửi Ban lãnh đạo ấp Bãi G và Ủy ban nhân dân xã B giải quyết nhưng ông H không đồng ý trả lại đất. Hiện nay phần đất này ông H không ở mà cho bà Lê Thị B Tư ngụ tại tổ A, ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang) ở.

Nay ông N bà V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đoàn Văn H bà Nguyễn Thị Đ tháo dỡ, di dời căn nhà đi nơi khác và giao trả lại đất có chiều ngang 4m chiều dài 17,5m tổng diện tích là 70m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 350493 được Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 15/4/2020 cho bà Phạm Thị V đứng tên, tọa lạc tại tổ A, ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang) cho bà V ông N quản lý, sử dụng. Thống nhất với biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 16/8/2022 và kết quả định giá theo chứng thư định giá số 24 ngày 27/3/2024 của Công ty TNHH Đ2.

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và những lời khai tại Tòa của bị đơn ông Đoàn Văn H và bà Nguyễn Thị Đ trình bày:

Trước năm 1985 vợ chồng ông H bà Đ có khai phá và cất nhà ở tại tổ A, ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang). Căn nhà ở có chiều ngang 4m chiều dài 17,5m, phần đất này do ông H tự khai phá cho đến năm 2020 thì ông N bà V tranh chấp. Hiện nay ông N bà V được cấp một phần đất để cất nhà ở không có liên đến phần đất của ông H.

Việc bà V khai là ông H có kêu bà V lấy lại căn nhà và giao giá trị căn nhà số tiền 60.000.000đồng là không có, do trước kia ông H sắp đi nên bà V có ngõ ý muốn lấy lại căn nhà với giá 15.000.000đồng, ông H có nói với bà V là 15.000.000đồng không đủ làm nhà nên ông H bỏ đi không trả lời. Nay ông N bà V yêu cầu tháo dỡ, di dời căn nhà đi nơi khác là không hợp lý và ông H bà Đ không đồng ý. Thống nhất với biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 16/8/2022 và kết quả định giá theo chứng thư định giá số 24 ngày 27/3/2024 của Công ty TNHH Đ2.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bé T hiện nay không còn sinh sống tại địa phương và qua xác minh chính quyền địa phương được biết bà T có đăng ký thường trú tại địa phương nhưng bà T đi đâu, làm gì không báo cho chính quyền địa phương. Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng. Tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa hôm nay bà T vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà T.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Thẩm phán cần khắc phục thời hạn xét xử vụ án đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng N, bà Phạm Thị V và buộc ông Đoàn Văn H, bà Nguyễn Thị Đ giao trả lại diện tích đất, căn nhà là 69,9m² (theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/8/2022; Tờ trích đo địa chính số TĐ 190-2022 ngày 31/10/2022 Toà án phối hợp với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K và Công văn số: 156/UBND-TNMT ngày 29/02/2024 của Ủy ban nhân dân huyện K) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 350493 được Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 15/4/2020 cho bà Phạm Thị V đứng tên, tọa lạc tại tổ A, ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang) cho ông N, bà Đ quản lý sử dụng và buộc ông N bà V phải có nghĩa vụ giao trả lại giá trị căn nhà cho ông H bà Đ số tiền 89.274.175đồng (theo kết quả chứng thư định giá số 24 ngày 27/3/2024 của Công ty TNHH Đ2). Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến án phí và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.

Phát biểu của Luật sư ông Huỳnh Tài Đ1: Thống nhất với ý kiến của nguyên đơn và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng N, bà Phạm Thị V và buộc ông Đoàn Văn H, bà Nguyễn Thị Đ tháo dỡ, di dời căn nhà bao gồm những tài sản gắn liền với căn nhà đi nơi khác và giao trả lại đất có diện tích là 69,9m² (theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/8/2022; Tờ trích đo địa chính số TĐ 190-2022 ngày 31/10/2022 Toà án phối hợp với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K và Công văn số: 156/UBND-TNMT ngày 29/02/2024 của Ủy ban nhân dân huyện K) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 350493 cấp ngày 15/4/2020 cho bà Phạm Thị V đứng tên, tọa lạc tại tổ A, ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang) cho ông N, bà Đ quản lý sử dụng và không đồng ý giao giá trị căn nhà bao gồm những tài sản gắn liền với căn nhà cho ông H bà Đ với số tiền 89.274.175đồng (theo kết quả chứng thư định giá số 24 ngày 27/3/2024 của Công ty TNHH Đ2).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Hoàng N bà Phạm Thị V và ông Đoàn Văn H bà Nguyễn Thị Đ có liên quan đến quyền sử dụng đất (là bất động sản), phần đất tranh chấp tọa lạc tại: ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang). Căn cứ vào Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – An Giang. Đây là vụ án “Tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” được quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bé T được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt và tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đều khai bà T sống trong căn nhà đang tranh chấp thời gian ngắn là bà T đi đâu cho đến nay, việc bà T sống trong căn nhà là do bị đơn cho bà T ở nhờ nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu của ông Nguyễn Hoàng N bà Phạm Thị V yêu cầu ông Đoàn Văn H, bà Nguyễn Thị Đ tháo dỡ, di dời căn nhà đi nơi khác và giao trả lại đất có chiều ngang 4m chiều dài 17,5m tổng diện tích là 70m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 350493 cấp ngày 15/4/2020 cho bà Phạm Thị V đứng tên, tọa lạc tại tổ A, ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang) cho ông N, bà Đ quản lý sử dụng. Hội đồng xét xử nhận thấy về nguồn gốc đất tranh chấp giữa ông N bà V và ông H bà Đ như sau:

[3.1] Về nguồn gốc đất, nhà tranh chấp:

Theo ông N bà V khai nguồn gốc đất vào năm 1975 gia đình ông N bà V về cất nhà ở tại tổ A, ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang) và sinh sống đến năm 1995 thì được Nhà nước cấp lại một phần đất ở có diện tích là 1909,9m², tọa lạc tại tổ A, ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang) theo Thông báo số 15 ngày 8/3/1996 của Ủy ban nhân dân huyện H và Quyết định số 1228/QĐ-UB ngày 28/10/1996 Ủy ban nhân dân tỉnh K. Nay gia đình ông bà được Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 350493 ngày 15/4/2020 cho bà Phạm Thị V đứng tên. Ông Đoàn Văn H có ở nhờ trên phần đất của bà Tiết Thị Mỹ D đến năm 2010 bà D lấy phần đất cho ông H ở nhờ để sang nhượng lại cho người khác và bà D có hỗ trợ cho ông H tiền di dời là 4.000.000đồng. Trong lúc đó gia đình ông N bà V thấy ông H không có nơi ở, hoàn cảnh khó khăn và sự vận động hỗ trợ của Ban lãnh đạo ấp về việc cho ông H ở nhờ trên phần đất của gia đình ông bà V có chiều ngang 4m chiều dài 17,5m tổng diện tích là 70m², tại tổ A, ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang). Thỏa thuận gia đình ông bà cho ông H ở nhờ trên phần đất là 10 năm có sự chứng kiến của Ban lãnh đạo ấp B. Nay ông N bà V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đoàn Văn H bà Nguyễn Thị Đ tháo dỡ, di dời căn nhà đi nơi khác và giao trả lại đất nêu trên cho ông bà.

Theo ông H bà Đ khai nguồn gốc đất là trước năm 1985 có khai phá và cất nhà ở tại tổ A, ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang). Căn nhà ở có chiều ngang 4m chiều dài 17,5m, phần đất này do ông H tự khai phá cho đến năm 2020 thì ông N bà V tranh chấp. Hiện nay ông N bà V được Nhà nước cấp một phần đất để cất nhà ở không có liên quan đến phần đất của ông H. Nay ông N bà V yêu cầu tháo dỡ di dời căn nhà đi nơi khác là không hợp lý và ông H bà Đ không đồng ý.

[3.2] Qua xác minh những hộ lân cận về nguồn gốc đất tranh chấp giữa ông N bà V với ông H bà Đ như sau:

Theo ông Nguyễn Ân N1 khai “Nguồn gốc đất tranh chấp giữa ông N bà V và ông H bà Đ là đất của cha ông Lê Văn B1, do ông B1 không sử dụng bỏ trống, Nhà nước thu hồi và giao lại cho An Hải S và những hộ dân sinh sống trên đất gồm ông N bà V, ông S1, ông T1, bà D nhưng bà D, ông S1, ông T1 đã sang nhượng chỉ còn lại ông N bà V là sử dụng, sinh sống cho đến nay. Ông N1 biết được trước đây ông H và bà D có tranh chấp di dời căn nhà của ông H ra phần đất của bà D. Ông N1 cũng biết ông H, bà Đ sinh sống trên phần đất này cũng lâu rồi, ông không nhớ rõ cụ thể năm nào”.

Theo ông Phạm Văn T1 khai “Nguồn gốc đất tranh chấp giữa ông N bà V và ông H bà Đ là nguồn gốc đất của ông Lê Văn L là cha ruột của ông Lê Văn B1, do gia đình ông L không sử dụng trong một thời gian dài nên Nhà nước thu hồi đất và giao lại cho Tỉnh ủy Đồng Tháp một phần đất, giao lại cho Tỉnh ủy A (nay là khách sạn A1) một phần đất, giao lại cho ông Nguyễn Hoàng N bà Phạm Thị V một phần đất, giao lại cho bà Tiết Thị Mỹ D một phần đất, giao lại cho ông Nguyễn Vĩnh S1 một phần đất và ông Phạm Văn T1 một phần đất, phần đất giao ông T1, bà V, bà D và ông S1 có chiều ngang 6m chiều dài khoảng 80m.

Trước đây ông H bà Đ có cất nhà trên đất của bà Tiết Thị Mỹ D nhưng do bà D sang nhượng đất nên đã hỗ trợ tiền ông H di dời ra khỏi phần đất của bà D thì ông H đã di dời và tại hòa giải ở ấp có thỏa thuận cho ông H di dời nhà sang phần đất của bà V trong thời hạn 10 năm, hết thời hạn này thì bà V lấy lại đất cho ở nhờ. Vợ chồng ông H sống trên đất của bà V ông N từ sau khi bà D lấy lại đất không cho ở nhờ và yêu cầu di dời nhà ra khỏi đất của bà D. Sau đó ông H được bà V cho cất nhà tạm trên đất của bà V ở từ đó cho đến nay và xảy ra tranh chấp, hai bên không có làm giấy tờ mà chỉ có làm việc tại biên bản ở Ấp là cho ông H ở thời gian 10 năm trên đất bà V”

[3.3]. Xét về vị trí, diện tích đất, nhà tranh chấp:

Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/8/2022 và Tờ trích đo địa chính số TĐ 190-2022 ngày 31/10/2022 Toà án phối hợp với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K tiến hành đo đạc thể hiện khu đất tranh chấp có tổng diện tích đất là 69,9m², toạ lạc tại ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang).

Tại Công văn số 156/UBND-TNMT ngày 29/02/2024 của Ủy ban nhân dân huyện K phúc đáp như sau: “Khu đất tranh chấp giữa ông Nguyễn Hoàng N, bà Phạm Thị V với ông Đoàn Văn H, bà Nguyễn Thị Đ với diện tích 69,9m², thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 350493 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp cho bà Phạm Thị V ngày 15/4/2020, tọa lạc tại: ấp B, xã B, huyện K tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang ). Khu đất tranh chấp được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K lập Tờ trích đo địa chính số TĐ 190-2022 ngày 31/10/2022, loại đất trồng cây lâu năm. Căn cứ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận được Ủy ban nhân dân xã B xác nhận thì thửa đất trên do bà Phạm Thị V khai hoang vào năm 1975. Đến năm 1998 bà Phạm Thị V cất nhà ở và trồng cây lâu năm sử dụng đến nay. Ngoài ra, tại Quyết định số: 1228/QĐ-UB ngày 28/10/1996 của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh về việc giải quyết đơn của ông Lê Quang K (tại khu đất trên) cũng đề cập đến việc sử dụng đất và cất nhà của bà Phạm Thị V khoảng năm 1977. Trong quá trình giải quyết đơn của ông Lê Quang K (phát sinh từ năm 1994 đến năm 1996), cơ quan chức năng chưa ghi nhận việc sử dụng đất của ông Đoàn Văn H và bà Nguyễn Thị Đ tại khu đất trên. Ủy ban nhân dân huyện K xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 350493 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp cho bà Phạm Thị V ngày 15/4/2020 thông qua hình thức công nhận quyền sử dụng đất”.

Tại Công văn số: 16/UBND-ĐC-XD ngày 26/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã B phúc đáp như sau: “Về nguồn gốc đất là do bà Phạm Thị V tự khai hoang từ năm 1975. Đến năm 1998 bà Phạm Thị V cất nhà ở và trồng cây lâu năm sử dụng cho đến nay. Theo Quyết định số: 1228/QĐ-UB ngày 28/10/1996 của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh K về việc giải quyết đơn của ông Lê Quang K. Trong Quyết định không thừa nhận việc khiếu nại xin lại đất cũ của ông Lê Quang K không đúng với Điều 2 Luật đất đai năm 1993. Đồng thời giao cho Ủy ban nhân dân huyện H (nay là huyện K) tổ chức thực hiện Quyết định và lập thủ tục cấp giấy chứng nhận cho 03 hộ dân. Trong đó, có hộ bà Phạm Thị V. Ngày 15/4/2020 bà Phạm Thị V được Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 350493, số vào sổ: CH 00895, tờ bản đồ số: 174-2018, thửa số 01, tổng diện tích 1209,9m², trong đó đất ONT 119,7m², đất trồng cây lâu năm 1090,2m². Về phần ông Đoàn Văn H thì trước đây ông H có ở nhờ trên đất của bà Tiết Thị Mỹ D là mẹ của ông Lê Quang K, thửa đất hiện nay nằm giáp ranh với bà Phạm Thị V. Thời điểm năm 2010 bà Tiết Thị Mỹ D có nhu cầu cần bán đất cho người khác, bà D yêu cầu ông H di dời nhà ở đi nơi khác, bà D có hỗ trợ tiền cho ông H di dời là 4.000.000đồng thì ông H đồng ý. Lúc này ông H khó khăn không có đất để cất nhà ở và được sự vận động của Ấ nên bà Phạm Thị V đồng ý cho ông Đoàn Văn H cất nhà ở tạm trên đất, thời gian ở nhờ là 10 năm tính từ năm 2010"

[3.4] Xét yêu cầu ông Nguyễn Hoàng N bà Phạm Thị V yêu cầu ông Đoàn Văn H, bà Nguyễn Thị Đ tháo dỡ, di dời căn nhà đi nơi khác và giao trả lại đất có diện tích là 69,9m² nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 350493 được Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 15/4/2020 cho bà Phạm Thị V, tọa lạc tại tổ A, ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang) cho ông N, bà Đ quản lý sử dụng là có cơ sơ xem xét. Bởi qua các chứng cứ chứng minh phần đất mà ông N bà V đòi lại là do ông N bà V tự khai phá, sinh sống từ năm 1975 và được Nhà nước cấp lại một phần đất ở theo Thông báo số 15 ngày 8/3/1996 của Ủy ban nhân dân huyện H và Quyết định số 1228/QĐ-UB ngày 28/10/1996 Ủy ban nhân dân tỉnh K. Ngày 15/4/2020 bà Phạm Thị V được Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 350493, số vào sổ: CH 00895, tờ bản đồ số: 174-2018, thửa số 01, tổng diện tích 1209,9m², trong đó đất ONT 119,7m², đất trồng cây lâu năm 1090,2m². Trong khi đó ông H bà Đ khai trước năm 1985 có khai phá và cất nhà ở nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn gốc đất đang tranh chấp là của mình được cấp có thẩm quyền của Nhà nước xác thực. Qua xác minh những người sinh sống lâu năm tại địa phương đều cho biết nguồn gốc đất tranh chấp là của ông N bà V và cho biết ông H bà Đ ở nhờ trên đất của ông N bà V là sau khi bà Tiết Thị Mỹ D không cho ông H ở nhờ trên đất bà D (theo Phiếu thực hiện hòa giải cơ sở ngày 22/12/2009 và ngày 08/01/2010 – Bút lục số 05, 25). Tuy nhiên, tại phiên tòa ông H bà Đ lại không có văn bản hay giấy tờ để chứng minh được nguồn gốc đất sử dụng là của mình, vợ chồng ông H bà Đ khai không còn sinh sống tại căn nhà tranh chấp trên khoảng sáu năm đến bảy năm nay với lý do gia đình bà V cắt đường nước, không có nước sử dụng nên gia đình ông H bà Đ phải đến nhà con ruột tại ấp R, phường T, tỉnh An Giang sống và phía ông N bà V thì khai do hết thời hạn 10 năm (năm 2010 đến năm 2020) cho gia đình ông H ở nhờ trên đất nên gia đình ông N bà V có yêu cầu ông H di dời căn nhà đi nơi khác, giao trả lại đất cho ông N bà V quản lý, sử dụng nhưng ông H cố tình không di dời căn nhà, giao trả lại đất. Trong quá trình giải quyết ông H bà Đ đều khẳng định xây dựng căn nhà là do ông H, bà Đ tạo dựng. Tại phiên tòa ông H bà Đ xác nhận căn nhà do vợ chồng xây dựng có kết cấu căn nhà theo kết quả chứng thư định giá số 24 ngày 27/3/2024 của Công ty TNHH Đ2 và các đương sự đều thống nhất kết quả chứng thư định giá này. Hội đồng xét xử nhận thấy căn nhà bao gồm những tài sản gắn liền với nhà hiện nay có dấu hiệu xuống cấp, tường bám rong rêu, nền xi măng bong tróc vài nơi, mái tole rỉ sét, nếu tháo dỡ, di dời căn nhà đi nơi khác thì gây thiệt hại hư hỏng, không thể sử dụng được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông N bà V là buộc ông Đoàn Văn H, bà Nguyễn Thị Đ giao trả lại diện tích 69,9m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 350493 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp cho bà Phạm Thị V ngày 15/4/2020, tọa lạc tại: ấp B, xã B, huyện K tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang) cho ông Nguyễn Hoàng N bà Phạm Thị V quản lý, sử dụng và buộc ông N bà V phải có nghĩa vụ giao giá trị căn nhà bao gồm những tài sản khác gắn liền với căn nhà số tiền 89.274.000đồng (theo kết quả chứng thư định giá số 24 ngày 27/3/2024 của Công ty TNHH Đ2) cho ông H bà Đ; buộc ông H bà Đ phải giao lại căn nhà bao gồm những tài sản khác gắn liền với căn nhà (theo kết quả chứng thư định giá số 24 ngày 27/3/2024 của Công ty TNHH Đ2) cho ông N bà V quản lý, sử dụng là phù hợp với quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự.

Từ những nhận định và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông N bà V là buộc ông Đoàn Văn H, bà Nguyễn Thị Đ phải giao lại căn nhà bao gồm những tài sản khác gắn liền với căn nhà (theo kết quả chứng thư định giá số 24 ngày 27/3/2024 của Công ty TNHH Đ2), đất có diện tích 69,9m² (theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/8/2022; Tờ trích đo địa chính số TĐ 190-2022 ngày 31/10/2022 Toà án phối hợp với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K và Công văn số: 156/UBND-TNMT ngày 29/02/2024 của Ủy ban nhân dân huyện K) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 350493 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp cho bà Phạm Thị V ngày 15/4/2020, tọa lạc tại: ấp B, xã B, huyện K tỉnh Kiên Giang (nay là xã K, tỉnh An Giang) cho ông Nguyễn Hoàng N bà Phạm Thị V quản lý, sử dụng và buộc ông N bà V phải giao giá trị căn nhà bao gồm những tài sản khác gắn liền với căn nhà số tiền 89.274.000đồng (theo kết quả chứng thư định giá số 24 ngày 27/3/2024 của Công ty TNHH Đ2) cho ông H bà Đ.

[4] Xét thấy đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Luật sư Huỳnh Tài Đ1 về yêu cầu ông H bà Đ phải giao trả lại phần đất có diện tích 69,9m² cho ông N bà Đ quản lý, sử dụng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị này của Luật sư; Đối với đề nghị không đồng ý giao lại giá trị căn nhà số tiền 89.274.000đồng (theo kết quả chứng thư định giá số 24 ngày 27/3/2024 của Công ty TNHH Đ2) cho ông H bà Đ là chưa phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị này của Luật sư.

[5] Xét thấy đề nghị đại diện Viện kiểm sát là có cơ chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát.

[6] Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ là 6.928.000đồng. Ông Đoàn Văn H, bà Nguyễn Thị Đ phải chịu theo quy định. Đề nghị Thi hành án dân sự tỉnh An Giang – Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – An Giang thu số tiền này và giao trả lại cho ông N bà V.

Do ông Nguyễn Hoàng N bà Phạm Thị V đã tạm ứng chi phí đo đạc, thẩm định giá số tiền 9.000.000đồng theo Giấy nộp tiền ngày 22/11/2021. Theo đó, hoàn trả lại số tiền 3.072.000đồng cho ông Nguyễn Hoàng N bà Phạm Thị V (đã nhận theo Biên nhận ngày 12/9/2025).

[8] Về án phí: Được giải quyết theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

- Áp dụng: Điều 166 Bộ luật Dân sự. Tuyên xử;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng N và bà Phạm Thị V.

Buộc ông Đoàn Văn H, bà Nguyễn Thị Đ phải giao căn nhà bao gồm những tài sản khác gắn liền với căn nhà (theo kết quả chứng thư định giá số 24 ngày 27/3/2024 của Công ty TNHH Đ2), gắn liền với đất có diện tích 69,9m² (theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/8/2022; Tờ trích đo địa chính số TĐ 190-2022 ngày 31/10/2022 Toà án phối hợp với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K và Công văn số: 156/UBND-TNMT ngày 29/02/2024 của Ủy ban nhân dân huyện K) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 350493 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp cho bà Phạm Thị V ngày 15/4/2020, tọa lạc tại: ấp B, xã K, tỉnh An Giang cho ông Nguyễn Hoàng N bà Phạm Thị V quản lý, sử dụng.

Buộc ông Nguyễn Hoàng N bà Phạm Thị V phải giao giá trị căn nhà bao gồm những tài sản khác gắn liền với căn nhà số tiền 89.274.000đồng (theo kết quả chứng thư định giá số 24 ngày 27/3/2024 của Công ty TNHH Đ2) cho ông Đoàn Văn H bà Nguyễn Thị Đ.

2. Về án phí và chi phí tố tụng: Áp dụng Điều 144, Điều 147, Điều 156, Điều 157 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về án phí: Buộc ông Nguyễn Hoàng N, bà Phạm Thị V phải chịu án phí dân sự là 4.463.700đồng; Ông Đoàn Văn H, bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng. Nhưng do ông N, bà V, ông H, bà Đ là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban ThườngQuốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ là 6.928.000đồng. Ông Đoàn Văn H, bà Nguyễn Thị Đ phải chịu theo quy định. Đề nghị Thi hành án dân sự tỉnh An Giang – Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – An Giang thu số tiền này và giao trả lại cho ông N bà V.

Do ông Nguyễn Văn N2 bà Phạm Thị V đã tạm ứng chi phí đo đạc, thẩm định giá số tiền 9.000.000đồng theo Giấy nộp tiền ngày 22/11/2021. Theo đó, hoàn trả lại số tiền 3.072.000đồng cho ông Nguyễn Hoàng N bà Phạm Thị V (đã nhận theo Biên nhận ngày 12/9/2025).

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/10/2025). Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 8, tỉnh An Giang;
  • - THADS tỉnh An Giang;
  • - Đương sự;
  • - Lưu tập án, Hồ sơ;
  • - Lưu VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 197/2025/DS-ST ngày 21/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - AN GIANG về tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 197/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/10/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nh, bà V yêu cầu ông H, bà Đ tra lai đât mượn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger