Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190/2025/HS-PT

Ngày 10 tháng 12 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết.

Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Lễ, bà Phan Thị Minh Tâm.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Ngọc Như Xuân- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Đức Anh - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 284/2025/TLPT- HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 đối với vụ án Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang và do có kháng cáo của các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2025/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15- An Giang, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Đặng Bảo T, sinh ngày 01/10/2002 tại T, An Giang; Căn cước công dân số: 089202005197, cấp ngày 02/7/2021; đăng ký thường trú: Ấp E, xã V, tỉnh An Giang. Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Không; con ông Đặng Văn B, bà Trương Thị Y; chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực T thuộc Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh A.

    Về nhân thân: Ngày 07/01/2025, bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng. Đến ngày 09/4/2025, tạm đình chỉ thi hành Quyết định (có mặt).

  2. Lê Văn Đ, sinh ngày 16/12/1995 tại T, An Giang; Căn cước công dân số: 089095003161, cấp ngày 16/12/2021; đăng ký thường trú: Ấp D, xã V, tỉnh An Giang. Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông Lê Văn M, bà Lê Thị Hồng T1; vợ Trần Thị H; có 03 người con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/4/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực T thuộc Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh A (có mặt).

  3. Lê Vũ K, sinh ngày 17/6/2001 tại T, An Giang; Căn cước công dân số: 089201016504, cấp ngày 13/8/2021; đăng ký thường trú: Ấp D, xã V, tỉnh An Giang. Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Không; con ông Lê Văn T2, bà Dương Thị Thu T3; chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/4/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực T thuộc Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh A (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Vũ K: Ông Lê Văn T2, sinh năm 1973 (cha ruột K); Địa chỉ: ấp D, xã V, tỉnh An Giang (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Lê Vũ K: Ông Đào Văn O là Luật sư, Văn phòng Luật sư Trần Văn N thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A (vắng mặt, có gửi luận cứ bào chữa).

Trong vụ án còn những người tham gia tố tụng khác, nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 14/12/2024, bị cáo Đặng Bảo T rủ Lê Văn Đ và Lê Vũ K hùn tiền mua ma tuý sử dụng, cả 03 đồng ý. Do không có tiền, các bị cáo Đ, T, K thỏa thuận sẽ mang điện thoại của bị cáo Đ đi cầm cố lấy 300.000 đồng mua ma túy; các bị cáo T, K sẽ mượn mỗi người 100.000 đồng từ số tiền bị cáo Đ cầm cố điện thoại có được. Sau khi thống nhất thỏa thuận, bị cáo Đ mang điện thoại hiệu VIVO đến cửa hàng điện thoại Mạnh Cường cầm cố được 500.000 đồng, bị cáo Đ giữ lại 200.000 đồng tiêu xài cá nhân, còn 300.000 đồng đưa cho bị cáo T để mua ma túy. Bị cáo T liên lạc với Võ Thị Kiều T4 mua 02 tép ma túy với giá 300.000 đồng rồi mang đến ngôi nhà hoang thuộc ấp D, xã V, tỉnh An Giang. Khi đến nơi, bị cáo Đ cung cấp co thủy tinh để sử dụng cùng với các bị cáo T và K, cả 03 luân phiên sử dụng ma túy. Sau đó, các bị cáo Đ, T và K tự đi về nhà. Đến sáng ngày 15/12/2024, các bị cáo Đ, T và K bị Công an xã V kiểm tra xét nghiệm nước tiểu, tìm chất ma tuý. Kết quả các bị cáo Đ, T và K đều dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine. Qua làm việc, các bị cáo T, Đ, K khai nhận hành vi như đã nêu trên. Công an xã V tiến hành lập biên bản vụ việc, tạm giữ các đồ vật có liên quan, gồm: 01 co thủy tinh có gắn ống hút nhựa màu trắng sọc xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh; 02 đoạn ống hút nhựa màu xanh, trắng.

Kết luận giám định số 1784/KL-KTHS, ngày 26/12/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, xác định: Mẫu M (Co thủy tinh có gắn ống hút nhựa) có chứa chất ma tuý, loại Methamphetamine, không thể cân khối lượng (do mẫu ở dạng vết).

Kết luận giám định số 1785/KL-KTHS, ngày 08/02/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, xác định: Mẫu M1, M2, M3 (nước tiểu của Đợi, T, K) có tìm thấy thành phần chất ma tuý, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số: 24/CT-VKSKV15.HS, ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang đã truy tố Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Võ Thị Kiều T4 khai nhận, ngày 14/12/2024 T4 có bán cho T 01 tép ma túy đá, giá 300.000 đồng. T4 bị khởi tố và đang bị tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” ở một vụ án khác.

Ông Lê Văn T2 và bà Dương Thị Thu T3 (là cha, mẹ của Lê Vũ K) cho biết: Từ lúc sinh ra, tình trạng sức khỏe của bị cáo K bình thường. Khoảng năm 2021, bị cáo K có biểu hiện lạ như thường xuyên thức đêm. Gia đình có đưa bị cáo K đi điều trị, Bác sĩ chuẩn đoán “Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác”. Hiện sức khỏe của bị cáo K không có biểu hiện bất thường.

Ông Lê Văn T5 và ông Lê Văn H1 khai, xe mô tô biển số 67FF-6945 là của cha các ông tên Lê Văn H2, sinh năm 1948. Sau khi ông H2 chết (chết năm 2023) thì anh em thống nhất giao cho ông Lê Văn T2 quản lý, sử dụng. Ông T5, ông H1 không tranh chấp.

Theo Kết Luận giám định số 281/2025/KLGĐ và Công văn số 281.1/2025PYTTNB cùng ngày 11/7/2025 của Trung tâm P: Tại thời điểm xảy ra vụ việc và hiện tại, Lê Vũ K hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi; đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2025/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang, tỉnh An Giang đã quyết định: tuyên bố Tuyên bố các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Đặng Bảo T 08 (tám) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 09/4/2025 (ngày chín tháng tư năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm).

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 07/4/2025 (ngày bảy tháng tư năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm).

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, điểm q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Vũ K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 07/4/2025 (ngày bảy tháng tư năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm).

Ngoài ra, còn tuyên về xử lý vật chứng, tính án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/9/2025, Lê Vũ K và Lê Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 03/10/2025, bị cáo Đặng Bảo T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 16/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang kháng nghị (Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKSAG) kháng nghị một phần bản án hình sự số 41/2025/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – AN Giang về phần áp dụng pháp luật đối với bị cáo Lê Vũ K và hình phạt đối với bị cáo Đặng Bảo T.

Ngày 23/10/2025, các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K đều có đơn xin rút kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K vẫn khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, tự nguyện rút lại toàn bộ kháng cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Vũ K thống nhất việc bị cáo Lê Vũ K tự nguyện rút lại toàn bộ kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử, Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Đình chỉ xét xử phúc thẩm. Giữ nguyên kháng nghị theo Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKSAG ngày16/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng nghị và áp dụng Điều 116 Luật xử lý vi phạm hành chính, khấu trừ cho bị cáo 53 ngày tương đương với 79 ngày thời hạn chấp hành Quyết định xử lý vi phạm hành chính (từ ngày 21/01/2025 đến ngày 09/4/2025) vào thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Đặng Bảo T; không áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Vũ K; các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang trong hạn luật định và đơn kháng cáo của các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung: quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong vụ án, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ ngày 14/12/2024, bị cáo Đặng Bảo T rủ bị cáo Lê Văn Đ và Lê Vũ K hùn tiền mua ma tuý sử dụng, cả 03 đồng ý. Bị cáo T là người trực tiếp mua ma túy từ Võ Thị Kiều T4, bị cáo Đ chuẩn bị dụng cụ và cả 03 đến ngôi nhà hoang thuộc ấp D, xã V, tỉnh An Giang cùng sử dụng ma túy. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K. Hội đồng xét xử xét thấy, ngày 23/10/2025 các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K có đơn xin rút kháng cáo và tại phiên tòa các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K vẫn giữ nguyên yêu cầu xin rút kháng cáo nên Hội đồng xét xử định chỉ xét xử kháng cáo của các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K.

[5] Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang về việc áp dụng Điều 116 Luật xử lý vi phạm hành chính, khấu trừ thời hạn chấp hành Quyết định xử lý vi phạm hành chính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Đặng Bảo T; không áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Vũ K.

Hội đồng xét xử nhận thấy, ngày 15/12/2024 Công an xã V kiểm tra phát hiện Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K dương tính với chất ma túy. Ngày 07/01/2025, căn cứ vào kết quả xác định Đặng Bảo T dương tính với chất ma túy vào ngày 15/12/2024, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu (nay là TAND khu vực 15 - An Giang) ra quyết định số 13/2025/QĐ-TA ngày 07/01/2025 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đặng Bảo T, thời hạn 20 tháng, T chấp hành quyết định nêu trên ngày 21/01/2025. Đến ngày 09/4/2025, T bị khởi tố bị can, bắt tạm giam nên Cơ sở cai nghiện ma túy ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định số 13/2025/QĐ-TA ngày 07/01/2025 của TAND thị xã Tân Châu. Đến ngày 25/9/2025 Tòa án nhân dân khu vực 15 tuyên phạt bị cáo Đặng Bảo T 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/4/2025, nhưng không khấu trừ 79 ngày chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của bị cáo Đặng Bảo T là thiếu sót, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Và việc Cơ sở cai nghiện ma túy – Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh A ra Quyết định tạm đình chỉ quyết định số 13/2025/QĐ-TA ngày 07/01/2025 là không đúng thẩm quyền, vi phạm khoản 2 Điều 116 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi năm 2025). Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang là có căn cứ chấp nhận.

Ngoài ra, Kết Luận giám định số 281; Công văn 281.1 ngày 11/7/2025 của Trung tâm P đối với Lê Vũ K kết luận:

Theo tiêu chuẩn y học: Trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần, rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng các chất kích thích khác, bao gồm cafein (F15.71-ICD10). Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Trong vụ án này, bị cáo K bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi là do sử dụng ma túy, đây không phải là bệnh lý theo quy định trong y sinh học nhưng Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 BLHS “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” cho bị cáo là không phù hợp. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang là có căn cứ chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Về án phí: Các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang.

Tuyên bố các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 116 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi năm 2025),

Xử phạt bị cáo Đặng Bảo T 08 (tám) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 09/4/2025, nhưng được khấu trừ 53 ngày chấp hành hình phạt tù (do bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 79 ngày).

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 07/4/2025 (ngày bảy tháng tư năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm).

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt bị cáo Lê Vũ K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 07/4/2025 (ngày bảy tháng tư năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: các bị cáo Đặng Bảo T, Lê Văn Đ, Lê Vũ K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Tp Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Tòa án nhân dân khu vực;
  • - Viện kiểm sát khu vực;
  • - Phòng Thi hành án ds khu vực;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh An Giang;
  • - Bị cáo có kháng cáo;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; Toà Hình sự; HCTP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Bạch Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2025/HS-PT ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 190/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger