|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------- |
|
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST Ngày 29 tháng 9 năm 2025 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Trung Tá.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Hải Yến, ông Giàng A Chỉnh
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Lai Châu.
Đại diện Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Tăng Bá Vương - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lai Châu xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2025/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 8 năm 2025, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 08/QĐST-HNGĐ, ngày 12/9/2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Lò Thị X, sinh năm 1997
Địa chỉ: Bản T, xã S, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Nông Chí C, sinh năm 1998
Địa chỉ: Bản N, phường T, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Lò Thị X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nông Chí C đăng ký kết hôn ngày 18/3/2024 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu (Nay là phường T, tỉnh Lai Châu) kết hôn trên cơ sở tự nguyện.
Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2025 chị và anh C bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau và không hòa hợp. Nguyên nhân chủ yếu là do anh C không quan tâm đến vợ, mặc dù đã được hai bên gian đình hòa giải khuyên ngăn nhưng không thành. Nay mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị và anh C không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nông Chí C: Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án cho anh C nhưng anh C đều vắng mặt.
Trong quá trình giải quyết vụ án, do anh C đang đi làm, thường xuyên vắng nhà, bản thân anh C không hợp tác giải quyết việc ly hôn. Toà án đã lấy lời khai của anh Nông Văn H là anh trai sinh sống sát cạnh nhà anh C đồng thời tống đạt các văn bản tố tụng cho C và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại Tổ dân phố N, Ủy ban nhân dân phường T theo quy định.
Anh H cho biết vợ chồng chị X và anh C sau khi kết hôn thì anh H để cho anh C ở riêng tại nhà cũ cạnh nhà anh H. Trong quá trình chung sống với nhau anh C và chị X thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân vì sao anh không rõ, anh H và gia đình có chứng kiến việc anh C và chị X cãi nhau và có xảy ra xô xát, gia đình có can ngăn, hòa giải nhưng không có kết quả, chị X đã về nhà ngoại ở. Anh C hiện đang làm việc ở Lai Châu, giờ giấc đi lại thất thường, các văn bản tố tụng của toà anh C đã nhận được.
Qua xác minh, làm việc tại Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Lai Châu, Công an phường T, tỉnh Lai Châu thể hiện:
Chị Lò Thị X và anh Nông Chí C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu (Nay là Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Lai Châu). Từ sau khi kết hôn chị X và anh C có chung sống hạnh phúc với nhau tại bản Nà Cơ, Phường T, tỉnh Lai Châu. Tuy nhiên đến đầu năm 2025, hai anh chị có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, từ đó hai anh chị sống ly thân cho đến nay.
Tại phiên toà, nguyên đơn chị Lò Thị X vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến giữ nguyên yêu cầu đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nông Chí C, bị đơn anh C vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lai Châu tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đã đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Trong thời gian chuẩn bị xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lò Thị X, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị X được ly hôn với anh Nông Chí C. Về con chung: Chị Lò Thị X và anh Nông Chí C không có con chung; Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung do đương sự không yêu cầu giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào diễn biến phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Lai Châu, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
Chị Lò Thị X có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Nông Chí C. Bị đơn anh C có địa chỉ tại Bản N, phường T, tỉnh Lai Châu ( nay là Tổ dân phố N, phường T, tỉnh Lai Châu) nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt xét xử lần thứ 2, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nên hội đồng xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Mối quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị X và anh Nông Chí C là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau và không hòa hợp và ly thân từ đó cho đến nay. Nguyên nhân chủ yếu là do anh C không quan tâm đến vợ, mặc dù đã được hai bên gian đình hòa giải khuyên ngăn nhưng không thành. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa hai anh chị đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị X.
Về con chung: Chị Lò Thị X và anh Nông Chí C không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Tài sản chung anh chị không có yêu cầu, không có nợ chung, cho vay chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, dành quyền khởi kiện cho đương sự ở vụ việc khác khi có yêu cầu.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Lai Châu tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân, án phí là có căn cứ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được miễn án phí do là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lò Thị X được miễn án phí dân sự sơ thẩm
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị X được ly hôn với anh Nông Chí C.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Trung Tá |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LAI CHÂU về ly hôn
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn mâu thuẫn gia đình
