Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2025/DS-PT

Ngày 26/12/2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công.

Các Thẩm phán:

Ông Trương Nam Trung

Ông Lê Văn Duy

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thuý Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 26 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 205/2025/TLPT-DS ngày 06/10/2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9- Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 298/2025/QĐ-PT ngày 08 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị P; địa chỉ: tổ dân phố D, xã I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  2. Người đại diện ủy quyền: Bà Bùi Thị Thanh V; địa chỉ: tổ dân phố G, xã I, tỉnh Gia Lai (văn bản ủy quyền ngày 13tháng 01 năm 2025). Có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Viết T; địa chỉ: tổ dân phố C, xã I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Viết T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Đại diện nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 28, tờ bản đồ số 28 có diện tích 2.153,7m² tại thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 524212 ngày 08/9/2014 do nguyên đơn bà Vũ Thị P khai hoang vào năm 1995 để trồng lúa; đến năm 1996, bà P trồng toàn bộ cây cà phê và một số cây điều, cây bơ. Đến năm 2014, bà P thực hiện việc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất nên được Ủy ban nhân dân huyện I cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất có tứ cận giáp ranh: Phía Đông giáp thửa đất số 19 của ông M, bà M; Phía Tây giáp thửa đất số 36 và giáp đường đi; Phía Nam giáp thửa đất số 31 của ông T; phía Bắc giáp thửa đất số 18 của bà V. Trong quá trình quản lý, sử dụng đất, bà P đã sử dụng đúng ranh giới, diện tích đất được Nhà nước công nhận.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Viết T đã nhiều lần có hành vi lấn chiếm đất hợp pháp của bà P. Ông T là chủ sử dụng thửa đất số 31, tờ bản đồ số 28 có ranh giới phía Bắc giáp với thửa đất của bà P, vị trí đất thấp hơn nên bắt đầu từ khoảng năm 2012-2013, ông T dùng cuốc đào bới làm thay đổi ranh giới đất để lấn chiếm đất của bà P và trồng cây chuối, vì ông T cho rằng phần đất mà ông T lấn chiếm là của ông T trước đây mua của ông Ksor O. Bà P đã nhiều lần nhắc nhở, đồng thời tiến hành trồng một số trụ bê tông tại ranh giới đất để tránh xảy ra tranh chấp nhưng ông T không nghe. Đến 2016, ông T lại tiếp tục đào bới để lấn thêm vào thửa đất của bà P nên bà P nói ông T không được lấn đất nhưng ông T đã thách thức, xô xát đánh bà P gây thương tích nên ông T bị xử phạt vi phạm hành chính.

Đến năm 2024, ông T tiếp tục dùng cưa để cưa hạ 10 cây cà phê do bà P trồng vào năm 1996 trên đất của bà P, tại vị trí gần với ranh giới đất của ông T nên bà P đã gặp ông T để yêu cầu chấm dứt việc lấn đất nhưng ông T không nghe mà còn xô ngã các trụ rào bê tông do bà Phà D tại ranh giới đất và tiếp tục cưa phá 02 cây điều gần sát ranh giới đất ở phía Nam của bà P. Thực tế ông T đã làm thay đổi ranh giới để lấn chiếm đất của bà P tại nhiều vị trí khác nhau nhưng sau khi bà P khởi kiện, giữa bà P và ông T đã tự thoả thuận, thống nhất được một số vị trí. Phần diện tích đất còn lại ông T lấn chiếm của bà P là 182,1m² nhưng ông T không đồng ý trả lại cho bà P.

Do đó, bà Vũ Thị P khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Nguyễn Viết T phải trả lại cho bà P diện tích đất lấn chiếm 182,1m² có vị trí: Phía Đông giáp đất của bà M; phía Tây giáp ranh giới đất của bà P; phía Nam giáp với thửa đất số 31 của ông T; Phía Bắc giáp phần đất thực tế của thửa đất số 28; buộc ông T phải bồi thường giá trị của 10 cây cà phê và 02 cây điều trồng năm 1995 mà ông T đã cưa của bà P theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản là 142.817 đồng. Ông T phải có trách nhiệm di dời toàn bộ cây chuối do ông T trồng trên phần đất này.

Tại phiên toà, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu ông T phải bồi thường giá trị số cây bị cưa là 10 cây cà phê và 02 cây điều do giá trị thấp.

* Bị đơn trình bày:

Thửa đất 31, tờ bản đồ số 28 có nguồn gốc do ông T mua lại của ông Ksor O vào khoảng tháng 12 năm 1999, loại đất ruộng. Thời điểm nhận chuyển nhượng thì thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên giữa ông T và ông Ksor O có viết “Giấy bán ruộng” ghi ngày 30/12/1999, có chữ ký của bên mua, bên bán và thôn trưởng. Khi mua, bán các bên chỉ đo sơ bộ bằng cây đã gang tay diện tích thửa đất có chiều ngang khoảng 15 mét, chiều dài 100 mét. Đến năm 2016, ông T kê khai đăng ký sử dụng đất nên được UNBD huyện I cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Thửa đất có tứ cận tiếp giáp: Phía Đông giáp thửa đất số 19 của vợ chồng ông M; phía Tây giáp thửa đất số 36; phía Nam giáp suối; phía Bắc giáp thửa đất số 28. Trong quá trình sử dụng, ông T có đào 01 con mương nhỏ có chiều rộng 30cm, sâu khoảng 30cm sát ranh giới đất của bà P, ông M để dẫn nước từ suối vào ruộng. Hiện tại nước không còn vì vào năm 2014 ông T đã san lấp mương để trồng bắp.

Lý do xảy ra tranh chấp đất với bà P vì ông T cho rằng thửa đất số 28 bà P đang sử dụng có phần diện tích đất trước đây ông T mua của ông Ksor O và được công nhận quyền sử dụng đất cho ông T tại thửa đất số 31, tờ bản đồ số 28 nhưng bà P lấn chiếm, lấy đất của ông T. Nguyên nhân là do vào năm 2013 UBND huyện I đo đạc để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 31, tờ bản đồ số 28 không chính xác nên ông T bị thiếu diện tích 60m² đất. Ông T thừa nhận đã chặt của bà P 10 cây cà phê và 02 cây điều trên phần đất hiện nay bà P đang sử dụng, thời gian chặt vào khoảng tháng 4 năm 2024. Lý do là phần đất này thuộc diện tích đất ông T mua của ông Ksor O nhưng vào khoảng năm 2010 bà P đã chặt phá chuối của ông T để trồng cà phê và trồng điều nên ông T mới chặt.

Tại phiên toà, ông T xác định về hình thể, diện tích, độ dài tứ cận thửa đất số 31, tờ bản đồ số 28 khi kê khai để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng so với diện tích, độ dài tứ cận của “Sơ đồ thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 815034 ngày 13/4/2016 do UBND huyện I đã cấp cho ông T. Ông T xác định lại trước đây ông T có ý kiến việc cán bộ đo đạc đo không đúng hình thể, diện tích thửa đất của ông T là không chính xác. Việc cơ quan Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T là đúng quy định nhưng phần diện tích đất có tranh chấp 181.2m² là của ông T nên ông T không đồng ý trả lại cho bà P và không bồi thường thiệt hại về số cây trồng ông T đã chặt phá.

* Người làm chứng bà Phạm Thị M trình bày: Bà M có thửa đất bên cạnh đất của bà P và ông T nhưng không nhớ số thửa đất. Bà M bắt đầu sử dụng đất từ năm 1995 cho đến nay, trong quá trình sử dụng đất bà M nhiều lần chứng kiến ông T đã đào bới ranh giới đất của bà P để lấn chiếm và chặt phá cà phê của bà P. Việc ông T nhiều lần đào ranh giới đất của bà P xảy ra từ khoảng năm 2013 và nhiều lần sau này nhưng do thời gian lâu bà M không nhớ cụ thể. Bà P đã nhắc nhở nhiều lần nhưng ông T không nghe mà còn đánh bà P gãy tay.

* Người làm chứng ông Ksor O trình bày: Thửa đất hiện nay ông T đang sử dụng, có tranh chấp với bà P trước đây của ông Ksor O sử dụng trồng lúa nước. Vào năm 1999, ông O bán lại cho ông T. Diện tích thửa không đo đạc chính xác mà có chiều ngang khoảng 10 mét và chiều dài 75 mét. Sau khi được xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ông T, ông Ksor O xác định diện tích mà ông T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng hiện nay lớn hơn nhiều so với lúc ông O bán cho ông T, còn lý do vì sao thì ông O không rõ.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân khu vực 9- Gia Lai đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 36, Điều 39, Điều 217, Điều 227 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng các Điều 160, 161, 163 và 166; 175 của Bộ luật Dân sự; Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; khoản 47 Điều 3; Điều 4; Điều 26; Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Viết T phải trả lại cho bà Vũ Thị P diện tích đất 182,1m² thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số 28 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 524212 ngày 08/9/2014 cấp cho bà Vũ Thị Phà . Phần đất có độ dài tứ cận: Phía Đông giáp đất số 19 của ông M, bà M, có chiều dài 8,63m; phía Tây giáp thửa đất số 28, có chiều dài (14.47 + 20.12)m; phía Bắc giáp thửa số đất 28, có chiều dài (7.29 + 11.19)m; phía Nam một phần giáp thửa đất số 28 nhưng do ông T đang quản lý, sử dụng, có chiều dài (5,45 + 8,91 + 5,2 + 2,38 + 8,7 + 5,68 + 3,72)m và một phần giáp thửa đất số 31 có chiều dài 9,97m.
  2. Ông Nguyễn Viết T phải có trách nhiệm tự di dời toàn bộ cây trồng trên đất để trả lại đất cho bà P.

  3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Vũ Thị P về việc yêu cầu ông Nguyễn Viết T phải bồi thường giá trị của 10 cây cà phê và 02 cây điều. Bà Vũ Thị P có quyền khởi kiện lại để yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

* Kháng cáo: Ngày 11/8/2025 và ngày 08/9/2025 ông Nguyễn Viết T kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn giữ kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Viết T trong thời hạn luật định nên được xem xét, xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Nguồn gốc diện tích 2.153,7m² (đo đạc thực tế là 1.871,7m²), trong đó có phần diện tích tranh chấp 182,1m² tại thửa đất số 28, tờ bản đồ số 28 tại xã I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 524212 do Ủy ban nhân dân huyện I cấp ngày 08/9/2014 được bà Vũ Thị P khai hoang để trồng cây cà phê và một số loại cây khác từ năm 1995 cho đến nay. Thửa đất của bà P có phía phía Nam giáp thửa đất số 31 của bị đơn ông Nguyễn Viết T. Trong quá trình sử dụng đất, ông T cho rằng phần diện tích 182,1m² trong tổng số diện tích đất của bà P đang sử dụng trồng cây cà phê là của ông nhận chuyển nhượng của ông Ksor O từ năm 1999. Do đó bắt đầu từ năm 2013 ông T đã dùng cuốc đào bới làm thay đổi ranh giới, trồng chuối trên đất bà P đang sử dụng. Năm 2016 ông T tiếp tục đào bới nên bà P đã phản ứng nhưng ông T thách thức xô đánh bà P gây thương tích. Đến năm 2024 ông T tiếp tục dùng cưa để cưa hạ 10 cây cà phê và 02 cây điều trên phần đất của bà P giáp ranh với đất ông T để trồng một số cây chuối.

[3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Viết T thấy rằng:

[3.1] Ông T cho rằng phần diện tích tranh chấp là do ông nhận chuyển nhượng của ông Ksor O từ năm 1999, năm 2013 bà P đã lấn chiếm và trồng cây cà phê, cây điều trên đó. Tuy nhiên ông T không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh bà P có hành vi lấn chiếm đất của ông. Mặt khác, theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 14/01/2025 (BL 70 - 73) trên phần diện tích đất tranh chấp, bà P đã trồng 10 cây cà phê và 02 cây điều từ năm 1995; tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm ông T thừa nhận năm 2024 ông đã dùng cưa để cưa hạ 10 cây cà phê và 02 cây điều nói trên của bà P. Như vậy có căn cứ xác định bà P đã sử dụng phần diện tích đất tranh chấp trước khi ông T nhận chuyển nhượng của ông Ksor O.

[3.2] Kết quả lồng ghép tờ bản đồ (BL 65) thể hiện, thửa đất số 28, tờ bản đồ số 28 của bà P có diện tích thực tế đang sử dụng thực tế là 1.871,7m²; thửa đất số 31, tờ bản đồ số 28 của ông T có diện tích thực tế đang sử dụng là 1.447,7m². Phần diện tích đất tranh chấp 182,1m² xác định thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số 28 của bà P. Ông T cho rằng ông Ksor O bán cho ông T diện tích đất có chiều dài đo sơ bộ là 100 mét, chiều rộng trung bình là 15 mét nên gồm cả phần diện tích đất tranh chấp với bà P. Tuy nhiên, tại “Giấy bán ruộng” ghi ngày 30/12/1999 giữa ông T và ông Ksor O chỉ thể hiện diện tích chiều dài 71 mét, chiều ngang khoảng 09 mét.

[4] Với những tài liệu, chứng cứ nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P, buộc ông T phải di dời các cây trồng, trả lại phần diện tích 182,1m² đất thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số 28 của bà P mà ông T đã lấn chiếm là là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Ông T kháng cáo nhưng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ gì mới nên Tòa án cấp phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Viết T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Gia Lai.
  2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Viết T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền đã tạm nộp án phí phúc thẩm là 300.000đ theo biên lai thu số 0002209 ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Ông T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND khu vực 9- Gia Lai;
  • - THADS tỉnh Gia Lai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, TDS, VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2025/DS-PT ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 185/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger