Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2025/HS-PT

Ngày 27 tháng 11 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng.

Các Thẩm phán: Ông Lại Hiệp Phong và ông Trần Hoàng Vũ.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Thiều Thanh Bội Giao - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 256/2025/TLPT-HS ngày 14 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo Phạm Ngọc C và bị cáo Trương Thị L, do có kháng cáo của các bị cáo Phạm Ngọc C và bị cáo Trương Thị L, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2025/HS-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Ngọc C, sinh năm 1967, tại T - An Giang; nơi cư trú: ấp L, phường L, thị xã T (nay là phường T), tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Phạm Văn T và bà Thái Thị H (đã chết); chồng là Nguyễn Văn N và có 02 con;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Ngày 06/4/2021, Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt xong ngày 02/6/2021.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 10/4/2025 đến nay (có mặt).

  2. Trương Thị L, sinh năm 1983, tại T - An Giang; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện P (nay là xã P), tỉnh An Giang; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Lê Văn T1 và bà Trương Thị N1 (đã chết); chồng là Nguyễn Hùng C1, có 02 con;

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 21/01/2020, Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt và nghĩa vụ án phí dân sự.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 10/4/2025 đến nay (có mặt).

Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 07/01/2025, Công an phường L, tiếp nhận tin báo về việc Phạm Ngọc C có hành vi bán số lô, số đề cho nhiều người tại nhà ngụ khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Qua kiểm tra, xác minh, mời Nguyễn Ngọc C2 làm việc, C2 khai nhận có sử dụng điện thoại, thông qua Z tên “N”, bán số đề, thắng thua trực tiếp bằng tiền cho Trần Thị C3 (nick Zalo “Kenly”), Võ Minh T2 (nick Zalo “Trạng Trọng”) và Trương Thị L (nick zalo “Linh Trương”). Qua giám định dữ liệu điện thoại, xác định: Ngày 04/01/2025, C2 bán số đề cho Trương Thị L nhiều con số dựa trên kết quả xổ số các đài phía nam (đài L, Hậu Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước), mở thưởng lúc 16 giờ, với số tiền 3.500.000 đồng, trúng thưởng 1.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 4.700.000 đồng. Ngày 05/01/2025, C2 bán số đề cho Trương Thị L nhiều con số dựa trên kết quả xổ số các đài phía nam (Kiên Giang, Đ) mở thưởng lúc 16 giờ, với số tiền 2.000.000 đồng, trúng thưởng 900.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 2.900.000 đồng. Ngày 06/01/2025, C2 bán số đề cho Trương Thị L nhiều con số dựa trên kết quả xổ số các đài phía nam (Đồng Tháp, Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau) với số tiền 4.725.000 đồng, trúng thưởng số đầu, số lô số tiền 5.700.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 10.425.000 đồng. Ngày 07/01/2025, C2 ghi bán số đề cho Trần Thị C3, số tiền 1.120.000 đồng, bán cho Võ Minh T2, số tiền tiền 400.000 đồng, trong lúc đang tổng hợp phơi, bị Công an mời làm việc, chưa có kết quả xổ số.

Tang vật thu giữ gồm: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A96 (của Phạm Ngọc C) và số tiền Việt Nam: 5.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 201/KL-KTHS ngày 10/02/2025 của phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: Tìm thấy dữ liệu trong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A96 (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T gửi giám định, chi tiết thể hiện trong DVD dữ liệu trích xuất kèm theo.

Kèm theo kết luận giám định: 01 đĩa DVD có dung lượng dữ liệu 984 GB, trên đĩa ghi Vụ: 201/KL-KTHS ngày 10/02/2025 và chữ ký Giám định viên Giáp Thanh T3.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc C, Trương Thị L phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Phạm Ngọc C 07 tháng tù. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Trương Thị L 06 tháng tù. Ngoài ra còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/9/2025 và ngày 16/9/2025, các bị cáo Phạm Ngọc C và Trương Thị L có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Phạm Ngọc C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử được hưởng án treo với lý do: Bị cáo đang mắc bệnh ung thư vú hiện đang điều trị; bị cáo đã ăn năn, hối hận, thành thật khai báo và nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính; quá trình tại ngoại chấp hành tốt pháp luật, không có hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo có cha tên Phạm Văn T là liệt sĩ.

Bị cáo Trương Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử cho hưởng án treo với lý do: Hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng đi làm ăn xa, bị cáo phải nuôi con nhỏ, bị cáo bị bệnh HIV và đang phải điều trị bệnh, ông ngoại bị cáo tên Trương Ngọc T4 là người có công với cách mạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Ngọc C, bị cáo Trương Thị L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 là đúng quy định pháp luật và có xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 xử phạt bị cáo Phạm Ngọc C 07 tháng tù; áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 xử phạt bị cáo Trương Thị L 06 tháng tù là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm bị cáo C cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới là có cha tên Phạm Văn T là liệt sĩ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, ngoài ra bị cáo bị bệnh ung thư đang hưởng trợ cấp xã hội. Đối với bị cáo L bản thân đang bị nhiễm HIV, ông ngoại là người có công với cách mạng.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 sửa bản án sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Ngọc C 07 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Thị L 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Phạm Ngọc C, Trương Thị L làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, các bị cáo Phạm Ngọc C, Trương Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm phạm tội, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 06/01/2025, các bị cáo Phạm Ngọc C, Trương Thị L có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số lô, số đề, thắng thua bằng tiền tại khu vực khóm L, phường L, thị xã T (nay là phường T) tỉnh An Giang. Tổng số tiền đánh bạc trong ngày là 10.425.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc C, Trương Thị L phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321; áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo C mức án 07 tháng tù; áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo L mức án 06 tháng tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với các ngày 04/01/2025, ngày 05/01/2025, ngày 07/01/2025 các bị cáo có hành vi đánh bạc, nhưng số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên không xử lý trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

[4] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của của các bị cáo Phạm Ngọc C, Trương Thị L:

Hành vi đánh bạc trái phép là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh đô thị và gây mất trật tự, trị an tại địa phương.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý; bị cáo C có nhân thân bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (đã nộp phạt xong); bị cáo L có nhân thân bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày 21/10/2020 về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong). Cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc C 07 tháng tù, bị cáo Trương Thị L 06 tháng tù là đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo.

Tuy nhiên, có xem xét đối với bị cáo Phạm Ngọc C: Tại cấp phúc thẩm cung cấp chứng cứ mới chứng minh cha bị cáo tên Phạm Văn T là liệt sĩ đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét; hiện bị cáo đang bị bệnh ung thư. Như vậy, bị cáo C có 03 tình tiết giảm nhẹ hình phạt tại điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mặc dù ngày 06/4/2021 bị Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, nhưng cũng đã nộp phạt xong ngày 02/6/2021. Do đó, để tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo và trị bệnh, xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam, mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật cũng có tác dụng cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Đối với bị cáo Trương Thị L: Cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trước đó ngày 21/01/2020, bị cáo bị Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt và nghĩa vụ án phí dân sự, đã được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự và được xem là tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo còn bị nhiễm HIV hiện đang điều trị, có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Do đó, để tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo và điều trị bệnh, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo Phạm Ngọc C, Trương Thị L; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2025/HS-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang.

Tuyên bố: các bị cáo Phạm Ngọc C, Trương Thị L phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Phạm Ngọc C 07 (bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 27/11/2025).

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Trương Thị L 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 27/11/2025).

Giao bị cáo Phạm Ngọc C cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Trương Thị L cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Phạm Ngọc C, Trương Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

(Hội đồng xét xử đã giải thích cho các bị cáo về chế định án treo).

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - THADS tỉnh An Giang;
  • - TAND khu vực 15 – An Giang;
  • - VKSND khu vực 15 – An Giang;
  • - Công an phường Tân Châu, An Giang;
  • - Công an xã Phú Lâm, An Giang;
  • - UBND phường Tân Châu, An Giang;
  • - UBND xã Phú Lâm, An Giang;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh An Giang;
  • - Bị cáo có kháng cáo;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; Toà HS; HCTP.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 182/2025/HS-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)

  • Số bản án: 182/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger