TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 182/2025/DS-PT
Ngày 19 tháng 11 năm 2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình.
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Thế Bình; Bà Triệu Thị Luyện.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2025/TLPT-DS ngày 16/10/2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2025/DSST Ngày 14/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 07/2025/QĐPT-DS ngày 27 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Thân Hoàng L, sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường V, tỉnh Bắc Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L: Bà Ong Thị T- Luật sư, Văn phòng Luật sư Vũ Anh H- Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).
- - Bị đơn: Chị Trần Thị S, sinh năm 1987 (có mặt); Anh Thân Quang M, sinh năm 1983 (vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của anh Q: Chị Trần Thị S, sinh năm 1987 (có mặt); Cùng địa chỉ: Tổ dân phố N, phường V, tỉnh Bắc Ninh.
- - Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1962 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1963 (vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường V, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1973 (có mặt); Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường V, tỉnh Bắc Ninh.
- Do có kháng cáo của chị Trần Thị S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn là ông Thân Hoàng L trình bày: Qua sự giới thiệu của bà Nguyễn Thị H1, ông có cho chị S, anh M vay tiền hai lần, cụ thể: ngày 27/7/2015 cho chị S vay 430.000.000 đồng và ngày 07/02/2016 cho chị S vay 80.000.000 đồng, tổng số tiền vay là 510.000.000 đồng, mục đích chị S vay tiền là buôn bán sim điện thoại và đi mổ tim cho mẹ. Chị S là người viết giấy nhận tiền và anh M, chị S ký nhận vào giấy, có anh Nguyễn Đức T1 làm chứng cho việc vay tiền giữa ông và anh M, chị S. Tại giấy nhận tiền hai bên không thoả thuận về lãi suất nhưng có thoả thuận thời hạn trả tiền là ngày 25/3/2016. Chị S, anh M cam kết nếu không trả được tiền sẽ trả bằng nhà và đất cho ông. Tuy nhiên đến thời hạn trả chị S không trả được tiền cũng không trả đất cho ông. Số tiền ông cho anh M, chị S vay là tiền riêng của ông không phải là tài sản chung của vợ chồng, vợ ông là bà Hoàng Thị V không liên quan gì đến khoản tiền này. Từ khi vay tiền đến nay chị S, anh M có chuyển khoản trả cho ông được 79.000.000 đồng tiền lãi, chưa thanh toán trả tiền gốc.
Tại đơn khởi kiện ngày 30/5/2025 và đơn khởi kiện bổ sung ông L yêu cầu chị S, anh M phải thanh toán trả số tiền gốc là 510.000.000 đồng và tiền lãi theo mức 10%/ năm, cụ thể: số tiền 430.000.000 đồng tính lãi từ ngày 27/7/2015, số tiền 80.000.000 đồng tính lãi từ ngày 25/3/2016. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải ông L thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu chị S, anh M phải trả ông số tiền gốc là 510.000.000 đồng và tiền lãi theo mức 10%/ năm, tính từ ngày 01/01/2017 đến khi toà án xét xử xong, trừ đi số tiền lãi mà chị S, anh M đã trả là 79.000.000 đồng.
Bị đơn chị Trần Thị S trình bày: Chị và ông Thân Hoàng L là hàng xóm, không có mối quan hệ họ hàng, qua sự giới thiệu của bà Nguyễn Thị H1 thì chị biết ông L. Ngày 07/02/2016 chị có viết giấy nhận tiền với ông L, nội dung giấy nhận tiền có ghi: “ngày 27/7/2015 có nhận của chú L số tiền 430.000.000 đồng (bốn trăm ba mươi triệu đồng) và ngày 07/02/2016 có nhận của chú L số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng), hẹn đến ngày 25/3/2016 sẽ trả số tiền trên”. Chữ viết, chữ ký trên giấy nhận tiền là chữ ký, chữ viết của chị và anh M.
Giấy vay tiền này là do ông L ép buộc chị viết, thực tế chị không được nhận số tiền như chị viết trong giấy nhận tiền. Số tiền ghi trong giấy là cả tiền gốc, tiền lãi của khoản tiền vay (chị không nhớ vay ngày nào). Chị không có tài liệu gì chứng minh việc ông L ép chị viết giấy nhận tiền ngày 07/02/2016.
Khi vay tiền chị vay 80.000.000 đồng tiền gốc, thoả thuận tiền lãi là 3000 đồng/1 triệu/1 ngày. Khi vay có thoả thuận vay trong thời gian bao nhiêu ngày, tuy nhiên chị không nhớ là thoả thuận vay thời gian bao lâu. Mục đích chị vay tiền ông L là dùng để bù đắp vào số tiền mà chị làm mất ở cơ quan. Ngoài ra, mẹ đẻ chị là bà Nguyễn Thị M1 còn vay của ông L hộ chị số tiền 80.000.000 đồng và số tiền vay hộ này mẹ chị cũng đã thanh toán trả ông L đầy đủ.
Chị xác định chị chỉ vay tiền ông L một lần, số tiền vay là 80.000.000 đồng, không vay tổng số tiền là 510.000.000 đồng. Chị không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh chị không vay số tiền 510.000.000 đồng như chị ghi trong giấy nhận tiền. Chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L, xác định chỉ nợ 80.000.000 đồng tiền gốc và đã trả được 79.000.000 đồng (cụ thể trả tiền gốc bao nhiêu, tiền lãi bao nhiêu thì không xác định được).
Bị đơn anh Thân Quang M đồng ý với ý kiến của chị Trần Thị S.
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Bà có quan hệ quen biết với ông L vì do ông L làm lái xe, thỉnh thoảng có thuê xe của ông L khi bà làm Ban chấp hành phụ nữ của thôn. Đối với chị S và anh M thì có mối quan hệ họ hàng xa. Có 01 lần bà giới thiệu chị S đến nhà ông L vay tiền, khoảng thời gian nào thì bà không nhớ. Mục đích là vay tiền đáo sổ Ngân hàng. Số tiền chị S vay ông L bao nhiêu bà không biết, bà không chứng kiến việc hai bên giao tiền cho nhau, bà chỉ giới thiệu chị S với ông L, rồi bà đi về. Bà không ký vào bất kỳ văn bản giấy tờ nào với tư cách là người làm chứng việc vay tiền giữa ông L và chị S.
- Bà Nguyễn Thị M1 trình bày: Bà và chị Trần Thị S có mối quan hệ là mẹ đẻ và con gái ruột, anh Thân Quang M là con rể bà, bà không có mối quan hệ gì với ông L, chỉ biết ông L qua bà Nguyễn Thị Hải giới T2. Bà không bao giờ vay tiền của ông L cho chị S, bà có vay của ông L số tiền 80.000.000 đồng để trả nợ cho con bà (Trần Văn T3). Bà chưa bao giờ đi cùng chị S đến nhà ông L vay tiền, việc vay tiền giữa chị S và ông L như nào bà không biết. Bà vay tiền ông L là vay của cá nhân bà, không liên quan gì đến chị S.
- Ông Nguyễn Đức T1 trình bày: Ông và ông Thân Hoàng L là mối quan hệ đồng niên cùng đi bộ đội. Ngày 07/02/2016 ông có được ông L gọi đến nhà để chứng kiến việc ông L cho chị S, anh M vay tiền. Tại nhà ông L, ông có chứng kiến việc chị S, anh M viết giấy vay tiền ông L, tại giấy vay tiền ông thấy chị S ghi số lần vay tiền anh L là 02 lần, một lần vay 430.000.000 đồng, một lần vay 80.000.000 đồng. Ông có nhìn thấy ông L đưa cho chị S, anh M số tiền 80.000.000 đồng và chị S, anh M có nhận số tiền này của anh L.
Tại nhà ông L, ông có thấy chị S, anh M và ông L trao đổi về nội dung viết vào giấy nhận tiền số tiền 430.000.000 đồng đã vay ông L trước đó. Việc chị S viết giấy nhận tiền ngày 07/02/2016 là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, cả chị S và anh M đều ký vào giấy nhận tiền. Chữ viết và chữ ký trong giấy nhận tiền là chữ viết chữ ký của chị S, anh M, ông ký vào giấy với tư cách người làm chứng.
Giấy nhận tiền ngày 07/02/2016 bản gốc mà ông L giao nộp tại Toà án chính là giấy nhận tiền mà chị S tự viết ngày 07/02/2016 tại nhà ông L để vay tiền.
Tại phiên toà sơ thẩm ông Thân Hoàng L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể ông yêu cầu chị S, anh M phải thanh toán trả số tiền vay gốc là 510.000.000 đồng và tiền lãi là tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo mức 10%/ năm kể từ ngày 01/01/2017 cho đến khi kết thúc phiên toà sơ thẩm, số tiền 79.000.000 đồng anh M, chị S đã trả ông từ ngày 12/9/2022 đến ngày 22/5/2025 là trả tiền lãi. Chị S không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông L và đề nghị Toà án áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Từ những nội dung trên Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh đã căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân; Căn cứ các Điều 157, Điều 357, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự; Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 229, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thân Hoàng L.
Buộc chị Trần Thị S, anh Thân Quang M phải có nghĩa vụ trả cho ông Thân Hoàng L số tiền 870.566.000 đồng (T4 trăm bẩy mươi triệu năm trăm sáu sáu nghìn đồng), trong đó: tiền gốc 510.000.000 đồng (Năm trăm mười triệu đồng chẵn), tiền lãi 360.566.000 đồng (Ba trăm sáu mươi triệu năm trăm sáu sáu nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí Tòa án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 26 tháng 8 năm 2025, bị đơn chị Trần Thị S kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Thân Hoàng L có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời, ngày 11/11/2025 gửi văn bản ý kiến của nguyên đơn. Tại văn bản trên ông L xác định chị S, anh M đã vay số tiền 510.000.000 đồng, đến ngày 12/9/2022 đã trả số tiền 79.000.000 đồng được trừ vào khoản nợ gốc. Ông L yêu cầu vợ chồng chị S, anh M phải trả số tiền nợ gốc là 431.000.000 đồng; Số tiền lãi chậm trả nợ của số tiền gốc 510.000.000 đồng từ ngày 01/01/2017 đến ngày 12/9/2022 với lãi suất 10% là 290.630.000 đồng (làm tròn số); Số tiền lãi chậm trả nợ của số tiền gốc 431.000.000 đồng từ ngày 13/9/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 14/8/2025 là 125.875.000 đồng (làm tròn số). Tổng số tiền chị S, anh M phải trả là 847.505.000 đồng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đồng ý với văn bản ý kiến của nguyên đơn.
Bị đơn chị Trần Thị S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Trong phần tranh luận, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn không tranh luận, đề nghị hội đồng xét xử sửa bản án như văn bản ý kiến của nguyên đơn.
Chị Trần Thị S trình bày tranh luận: Bản án sơ thẩm xử buộc vợ chồng chị phải trả ông Thân Hoàng L số tiền 510.000.000 đồng tiền gốc và 360.000.000 đồng tiền lãi chậm trả là không đúng thực tế, ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của vợ chồng chị. Vợ chồng chị không vay và không nhận số tiền 510.000.000 đồng của ông L. Ông L đã ép vợ chồng chị viết giấy nhận tiền ngày 07/02/2016, trong đó có số tiền 430.000.000 đồng là tiền lãi cao của các khoản vay trước cộng lại, số tiền gốc của khoản lãi này vợ chồng chị đã trả hết, còn tiền lãi chưa trả. Số tiền thực tế vợ chồng chị được nhận là 80.000.000 đồng và đã trả được 79.000.000 đồng. Lý do vợ chồng chị ký giấy nhận tiền ngày 07/02/2016 là do cần tiền cho mẹ chị đi bệnh viện mổ tim, không vay tiền ở đâu được nên phải ký giấy vay tiền của ông L. Chị đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 147, Điều 148 BLTTDS, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:
Không chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị S. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 25/2025/DSST ngày 14/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh. Buộc chị Trần Thị S, anh Thân Quang M phải có nghĩa vụ trả cho ông Thân Hoàng L số tiền 847.363.402 đồng, trong đó tiền gốc 431.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả 416.363.402 đồng.
Về án phí: Chị Trần Thị S và anh Thân Quang M phải chịu 37.420.900 (làm tròn) đồng án phí dân sự sơ thẩm; Chị S không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của chị Trần Thị S nộp trong thời hạn luật định đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ là kháng cáo hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án sơ thẩm xác định về quan hệ “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thời hiệu khởi kiện: Theo giấy nhận tiền đề ngày 07/02/2016 thì chị S vay tiền ông L, hẹn đến ngày 25/3/2016 sẽ thanh toán trả tiền, đến ngày 25/3/2016 chị S không thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Theo Điều 154, Điều 429 Bộ luật Dân sự thì thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về hợp đồng vay tài sản giữa ông L và chị S, anh M là 03 năm kể từ ngày 25/3/2016. Tuy nhiên từ ngày 12/9/2022 đến ngày 22/5/2025 chị S, anh M chuyển khoản trả ông L được số tiền là 79.000.000 đồng. Như vậy chị S, anh M đã thực hiện một phần nghĩa vụ của mình đối với ông L. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 157 Bộ luật dân sự để tính lại thời hiệu khởi kiện trong vụ án, do vậy ngày 02/6/2025 ông L khởi kiện vụ án yêu cầu Toà án giải quyết buộc chị S, anh M phải trả số tiền đã vay theo giấy nhận tiền ngày 07/02/2016 là còn thời hiệu khởi kiện.
- [2] Về nội dung vụ án:
Theo giấy nhận tiền viết tay đề ngày 07/02/2016 của chị Trần Thị S và chồng là anh Thân Quang M thì: Ngày 27/7/2015 chị S, anh M có nhận của ông L số tiền 430.000.000 đồng; Ngày 07/02/2016, chị S, anh M nhận của ông L số tiền 80.000.000 đồng; Hẹn đến ngày 25/3/2016 trả lại số tiền trên. Giấy nhận tiền có chữ ký của vợ chồng chị S, anh M và người làm chứng là ông Nguyễn Đức T1. Nội dung, mục đích của giấy nhận tiền không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội. Chủ thể tham gia giao kết là chị Trần Thị S, anh Thân Quang M có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Chị S xác nhận chữ ký chữ viết của chị tại giấy nhận tiền là đúng, nhưng chị viết giấy nhận tiền trên là do ông L ép buộc viết thì mới cho vay tiền. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày của mình, chị S không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bị ông L đe dọa, cưỡng ép viết giấy nhận tiền. Do đó, giấy nhận tiền đề ngày 07/02/2016 của vợ chồng chị S, anh M với ông L là hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Theo nội dung giấy nhận tiền đề ngày 07/02/2016 thì các bên không thỏa thuận về lãi suất. Từ khi viết giấy nhận tiền đến ngày 25/3/2016 khi chị S, anh M phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì các bên không thỏa thuận hoặc phát sinh việc trả lãi đối với số tiền vay trên. Do đó, cần xác định tại thời điểm viết giấy nhận tiền cho đến khi chị S, anh M phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì các bên không có thỏa thuận về lãi.
Theo giấy nhận tiền đề ngày 07/02/2016 thì ngày 27/7/2015 chị S, anh M có nhận của ông L số tiền 430.000.000 đồng và ngày 07/02/2016, chị S, anh M nhận của ông L số tiền 80.000.000 đồng. Tổng cộng, chị S và anh M đã nhận 510.000.000 đồng của ông L. Chị S kháng cáo cho rằng thực tế chị chỉ nhận được số tiền 80.000.000 của ông L. Còn số tiền 430.000.000 đồng chị không được nhận, số tiền này là số tiền lãi của các khoản vay trước đó chị vay của ông L nhưng chưa trả. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày của mình, chị S không đưa ra được các giấy vay tiền trước đó giữa chị và ông L hoặc các giấy tờ, tài liệu chứng cứ, chứng minh số tiền 430.000.000 đồng là số tiền lãi phát sinh từ các khoản vay trước đó. Vì vậy, ông Thân Hoàng L khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị S, anh M phải trả số tiền đã vay theo giấy nhận tiền ngày 07/02/2016 là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L có đơn xin xét xử vắng mặt, tuy nhiên, ông L có văn bản ý kiến gửi Tòa án tự nguyện xác định số tiền 79.000.000 đồng mà chị S, anh M đã trả đến ngày 12/9/2022 được trừ vào nợ gốc và tính lại phần lãi chậm trả. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của ông L không trái với đạo đức xã hội, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu và phù hợp với quy định của pháp luật, do đó, cần chấp nhận yêu cầu của ông L, sửa một phần bản án sơ thẩm đối với phần nợ gốc và phần lãi chậm trả. Vì vậy, xác định đến ngày 12/9/2022 vợ chồng chị S, anh M đã trả cho ông L số tiền 79.000.000 đồng tiền gốc đã vay. Số tiền nợ gốc vợ chồng chị S, anh M còn phải trả ông L là 510.000.000 đồng – 79.000.000 đồng = 431.000.000 đồng, do đó, cần sửa bản án dân sự sơ thẩm về xác định lại số nợ gốc và tính lại tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ (bản án sửa do lỗi khách quan)
- [9] Về tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Tại giấy nhận tiền ngày 07/02/2016 chị S, anh M hẹn đến ngày 25/3/2016 sẽ thanh toán trả tiền vay, tuy nhiên đến ngày 25/3/2016 anh M chị S không thực hiện nghĩa vụ trả tiền là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do vậy ông L yêu cầu chị S, anh M trả tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là có căn cứ theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự. Tại giấy nhận tiền ngày 07/02/2016 hai bên không thoả thuận về lãi suất, nay ông L yêu cầu chị S, anh M phải trả tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo mức 10%/ năm, kể từ ngày 01/01/2017 cho đến khi toà án xét xử xong là phù hợp với quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, do đó, cần chấp nhận.
- [10] Số tiền lãi chậm trả nợ của số tiền gốc 510.000.000 đồng từ ngày 01/01/2017 đến ngày 12/9/2025 với lãi suất 10% là (05 năm, 08 tháng, 11 ngày) là 290.536.000 đồng (làm tròn); Số tiền lãi chậm trả nợ của số tiền gốc 431.000.000 đồng từ ngày 13/9/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 14/8/2025 là (02 năm, 11 tháng, 01 ngày) 125.826.000 đồng (làm tròn). Tổng số tiền lãi vợ chồng chị S, anh M phải trả ông L do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là 416.362.000 đồng. Tổng số tiền chị S, anh M tiền gốc và lãi phải trả ông L là 431.000.000 đồng + 416.362.000 đồng = 847.362.000 đồng.
- [12] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Do bản án sơ thẩm bị sửa nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự, xử: Không chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị S; Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DSST Ngày 14/8//2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 229, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 157, Điều 357, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 470, Điều 688 Bộ luật dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thân Hoàng L.
- Buộc chị Trần Thị S, anh Thân Quang M phải có nghĩa vụ trả cho ông Thân Hoàng L số tiền 847.362.000 đồng (trong đó: nợ gốc 431.000.000 đồng; Tiền lãi chậm trả 416.362.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
- Ông Thân Hoàng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại ông Thân Hoàng Liền 21.150.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai tạm ứng số 0000521 ngày 13/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Việt Yên (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 – Bắc Ninh).
- Chị Trần Thị S, anh Thân Quang M chịu 37.420.900 (làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0000411 ngày 27/8/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 – Bắc Ninh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Bình |
Bản án số 182/2025/DS-PT ngày 19/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 182/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Nguyên đơn: Ông Thân Hoàng Long, sinh năm 1973; Bị đơn: Chị Trần Thị Sinh, sinh năm 1987
