|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 180/2025/HS-PT Ngày 26-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.
Các Thẩm phán:
- Ông Nguyễn Thiện Tâm;
- Ông Nguyễn Văn Nam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Út Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 157/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2025/HS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1990, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Không xác định; nơi tạm trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh nay là ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1966; có vợ là Nguyễn Thanh H, sinh năm 1987 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; bị cáo tại ngoại có mặt.
(Trong vụ án còn có các bị cáo: Nguyễn Thành N, Trần Ngọc C1; các bị hại: Đàm Văn Đ1, Nguyễn Đăng Khánh L, Cao Hồng N1, Đàm Thị Yến N2, Nguyễn Huỳnh Hoài B, Phan Quốc Đ2, Võ Văn D, Trần Minh B1: Không có kháng cáo, kháng nghị; Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Thành N có 03 tiền án chưa được xóa án tích. Khoảng 02 giờ ngày 09-10-2024, N rủ bị cáo Trần Ngọc C1 đi trộm cắp tài sản thì C1 đồng ý. C1 điều khiển xe môtô biển số 70L5-1553 chở N đến nhà của ông Đàm Văn Đ1 thuộc ấp B, xã P, Huyện D, có rạp đám cưới nên C1 dừng xe. N đi vào nhà lấy những tài sản gồm: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A03, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A30 và 01 máy tính bảng hiệu S của ông Đ1; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A58 của chị Nguyễn Đăng Khánh L; 01 điện thoại di động hiệu Redmi K40 Gaming của anh Nguyễn Huỳnh Hoài B; 01 điện thoại di động hiệu Redmi K40 Gaming của anh Phan Quốc Đ2; 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 14 Promax và 1.200.000 đồng của anh Võ Văn D; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5, 01 sợi dây chuyền vàng 18K khối lượng 01 chỉ, 01 sợi dây chuyền vàng 24K khối lượng 1,2 chỉ, 01 nhẫn vàng 18K khối lượng 0,3 chỉ, 01 nhẫn bạc, 01 lắc tay vàng 18K khối lượng 0,8 chỉ, 01 đôi bông tai vàng 18K khối lượng 0,7 chỉ và 01 đôi bông tai vàng 24K khối lượng 01 chỉ của chị Đàm Thị Yến N2. Nhơn bỏ những tài sản vào túi áo khoác, rồi đi ra ngoài gọi điện thoại cho C1 đến rước về nhà.
Trên đường về, N đưa cho C1 giữ 07 điện thoại di động và 01 máy tính bảng. Sau đó, C1 điều khiển xe chở N về nhà của N, rồi C1 điều khiển xe trên đường đi về nhà thì bị Công an bắt giữ cùng tang vật. Đến ngày 22-10-2024, khi biết C1 bị bắt, N nhờ chị Nguyễn Thị M là vợ của C1 mang 01 sợi dây chuyền vàng 18K khối lượng 01 chỉ, 01 nhẫn bạc, 01 lắc tay vàng 18K khối lượng 0,8 chỉ, 01 đôi bông tai bằng vàng 18K khối lượng 0,7 chỉ và 01 đôi bông tai vàng 24K khối lượng 01 chỉ đến giao nộp cho Công an Huyện D, rồi N bỏ trốn. Nhơn nhờ em ruột tên Nguyễn Thành Đ đi tìm thuê nhà tại ấp T, xã T, thành phố T cho N ở để lẩn trốn. Trong thời gian này, Được thường xuyên đem cơm và nước uống cho N.
Khoảng 00 giờ ngày 11-12-2024, N mang theo cây mỏ lết, đón xe đến nhà của ông Trần Minh B1 thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Nhơn dùng cây mỏ lết bẻ thanh cửa sổ, rồi chui vào nhà lấy trộm 42.000.000 đồng trong túi xách, rồi đi ra ngoài đón xe về nhà thuê. Khoảng 02 ngày sau, N giữ 2.000.000 đồng để tiêu xài, còn 40.000.000 đồng N đưa cho bị cáo Nguyễn Thành Đ cất giấu. Do biết số tiền này do N trộm cắp mà có nên Đ về nhà của mình tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, đào lỗ trên nền xi măng tại nhà bếp cất giấu tiền và dùng nắp đậy lại.
Khoảng 00 giờ ngày 15-12-2024, N mang theo cây mỏ lết, đón xe đến nhà của chị Cao Hồng N1 thuộc ấp B, xã P, Huyện D, thấy cửa bên hông không khóa. N đi vào phòng ngủ của chị N1 lấy trộm 4.000.000 đồng, 30 tờ vé số, 01 dây chuyền vàng 18K khối lượng 07 chỉ, 01 mặt dây chuyền vàng 18K khối lượng 2,7 chỉ, 01 nhẫn vàng Ý trọng lượng 7,88 gram và 01 nhẫn vàng Ý trọng lượng 7,02 gram, rồi N đi ra ngoài đón xe về nhà thuê. Sau đó, N đem bán số vàng trộm được, còn 30 tờ vé số thì N đối chiếu kết quả, nhưng không trúng nên vứt bỏ.
Khoảng 10 ngày sau, N tiếp tục gửi cho Được 10.000.000 đồng, rồi Đ đem cất giấu cùng 40.000.000 đồng trước đó. Số tiền này, Đ sử dụng theo yêu cầu của N hoặc sử dụng khi N đồng ý, trong đó N đã sử dụng 33.500.000 đồng và Đ đã sử dụng 10.000.000 đồng. Ngày 15-01-2025, N dùng số tiền có được từ việc trộm cắp đến tiệm V thuộc khu phố A, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh mua 01 nhẫn vàng 24K khối lượng 7,5 chỉ với số tiền 63.118.000 đồng, rồi về đưa chiếc nhẫn cho Được cất giấu trong tủ tại phòng ngủ của Được. Đến ngày 17-01-2025, N lấy lại nhẫn vàng để đem đi bán thì bị bắt giữ. Công an tiến hành làm việc với Được thì Được chỉ nơi cất giấu tiền nên Công an thu giữ số tiền còn lại 6.500.000 đồng tại nhà của Đ.
Kết luận định giá tài sản số 20 ngày 09-10-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Huyện D kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A58 trị giá 2.433.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Redmi K40 Gaming trị giá 3.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Redmi K40 Gaming trị giá 3.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 trị giá 2.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu S A03 trị giá 1.200.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu S A30 trị giá 1.100.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 14 Plus trị giá 12.667.000 đồng, 01 máy tính bảng hiệu S Tab E trị giá 1.000.000 đồng, 01 sợi dây chuyền vàng 18K khối lượng 01 chỉ trị giá 4.800.000 đồng, 01 sợi dây chuyền vàng 24K khối lượng 1,2 chỉ trị giá 9.560.000 đồng, 01 nhẫn vàng 18K khối lượng 0,3 chỉ trị giá 1.440.000 đồng, 01 nhẫn bạc trị giá 283.000 đồng, 01 lắc tay vàng 18K khối lượng 0,8 chỉ trị giá 3.840.000 đồng, 01 đôi bông tai vàng 18K khối lượng 0,7 chỉ trị giá 3.360.000 đồng, 01 đôi bông tai vàng 24K khối lượng 01 chỉ trị giá 7.967.000 đồng; Tổng trị giá 57.650.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 28 ngày 23-12-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Huyện D kết luận: 01 dây chuyền vàng 18K khối lượng 07 chỉ, 01 mặt dây chuyền vàng 18K khối lượng 2,7 chỉ, 01 nhẫn vàng Ý trọng lượng 7,88 gram và 01 nhẫn vàng Ý trọng lượng 7,02 gram có tổng trị giá 65.607.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2025/HS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Tây Ninh, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N, Trần Ngọc C1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên: Hình phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Thành N, Trần Ngọc C1; về biện pháp tư pháp; về xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 18-8-2025, bị cáo Nguyễn Thành Đ có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo: Do con bị cáo còn nhỏ, thường xuyên bị bệnh, bị cáo là lao động chính trong gia đình, xin được hưởng án treo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin hưởng án treo để được chăm sóc vợ, con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo đúng hình thức và trong thời hạn theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Do đó, hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm là hợp pháp, đúng pháp luật.
[2] Xét hành vi của các bị cáo, thấy rằng: Từ ngày 09-10-2024 đến ngày 15-12-2024, bị cáo Nguyễn Thành N và Trần Ngọc C1 thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại, trong đó: Bị cáo N thực hiện 03 vụ trộm cắp chiếm đoạt tài sản tổng trị giá là 170.757.000 đồng; bị cáo C1 thực hiện 01 vụ trộm cắp chiếm đoạt tài sản trị giá là 58.850.000 đồng; bị cáo Nguyễn Thành Đ biết rõ tài sản có tổng giá trị là 113.118.000 đồng do bị cáo N trộm cắp mà có nhưng khi N gửi bị cáo đã mang về nhà mình cất giấu. Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Thành N và Trần Ngọc C1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 323 của Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng:
[3.1] Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm có xem xét:
[3.1a] Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị cáo là lao động chính và có con nhỏ bị bệnh cần người chăm sóc; là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3.1b] Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[3.1c] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội. Bị cáo biết rõ tài sản do bị cáo N phạm tội trộm cắp tài sản mà có nhưng 03 lần bị cáo thực hiện hành vi chứa chấp tài sản này, trị giá trên 100.000.000 đồng nên phạm tội với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt từ 03 năm đến 07 năm tù. Do đó, cần thiết phải cách cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung; vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Đ với mức án 03 năm tù là phù hợp, không nặng; đồng thời, không có căn cứ để áp dụng chế định án treo cho bị cáo như nội dung kháng cáo.
[3.2] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
[4] Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành Đ.
- Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2025/HS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Tây Ninh.
2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 03 (ba) năm tù về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt bị cáo đi chấp hành án.
3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Nam |
Trần Thanh Tòng |
|
Nguyễn Thiện Tâm |
Bản án số 180/2025/HS-PT ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 180/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Đ- Tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có
