Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 179/2025/HNGĐ-ST

Ngày 29 – 9 – 2025

Về việc “Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Ngọc Anh

Bà Huỳnh Thị Thể Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Linh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 306/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 về ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Số B, ấp H, xã H, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện nay: Số D, ấp H, xã H, tỉnh An Giang. Số căn cước công dân: [...] (vắng mặt).
  • - Bị đơn: Ông Trình Văn T1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Số B, ấp H, xã H, tỉnh An Giang. Số căn cước công dân: [...] (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày như sau:

Về hôn nhân: Bà T và ông Trình Văn T1 tự tìm hiểu về tình cảm khoảng 02 năm và tổ chức lễ cưới, chung sống từ năm 2006. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang ngày 16/10/2012. Sau khi cưới bà T và ông T1 chung sống tại nhà chồng ở ấp H, xã P được 02 tháng thì vợ chồng lên Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống bằng nghề bán đồ ăn vặt cho cô chồng. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc, năm 2009 thì bà T phát hiện ông T1 có nhắn tin mập mờ tình cảm với người phụ nữ khác, vợ chồng cãi nhau, đánh nhau nhưng ông T1 không thừa nhận. Bà T vì con nên cũng bỏ qua nhưng ông T1 lại không thay đổi. Mâu thuẫn của vợ chồng gia đình hai bên đều biết. Bà T và ông T1 chính thức ly thân từ năm 2019 đến nay. Từ khi ly thân bà T và ông T1 không có liên lạc gì. Năm 2023 ông T1 có nộp đơn tại Tòa án nhưng bà T không biết, sau đó mới nghe người nhà nói nên bà có đến Tòa án thì được biết ông T1 đã rút yêu cầu ly hôn. Nay bà Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn với ông Trình Văn T1

Về con chung: có 01 con chung tên Trình Văn T2, sinh ngày 11/4/2007 hiện đã trưởng thành và đi làm tại Thành phố Hồ Chí Minh nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Trình Văn T1 vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt là vi phạm Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Trình Văn T1. Con chung Trình Văn T2, sinh ngày 11/4/2007 đã trưởng thành và tự lập được nên không xem xét giải quyết. Tài sản chung và nợ chung không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

  • - Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú xã P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.
  • - Nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt được tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Bà T và ông T1 chung sống với nhau năm 2006, hôn nhân tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang ngày 16/10/2012 nên hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Bà T cho rằng có mâu thuẫn, vợ chồng không còn chung sống từ năm 2009 đến nay. Qua xác minh, chị Trình Thị Mỹ T3 là em ruột ông T1 cho biết vợ chồng bà T, ông T1 có mâu thuẫn, không còn chung sống với nhau đã lâu.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”. Bà T, ông T1 ly thân một thời gian dài (hơn 16 năm) nhưng không còn thiện chí hàn gắn, điều này chứng minh mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không còn đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho bà T được ly hôn ông T1.

[3] Về con chung: có 01 con chung tên Trình Văn T2, sinh ngày 11/4/2007 hiện đã trưởng thành và đi làm tại Thành phố Hồ Chí Minh, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông T1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Tư pháp và người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án năm 2025;

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.

  1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Trình Văn T1.
  2. Về con chung: Có 01 con chung tên Trình Văn T2, sinh ngày 11/4/2007, đã thành niên và lao động được.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0012150 ngày 04 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Tân ( nay là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 12), tỉnh An Giang.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 12, tỉnh An Giang;
  • - THADS tỉnh An Giang;
  • - UBND xã Hòa Lạc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Rỡ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 179/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 179/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger