|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 178/2025/HNGĐ-PT
Ngày: 05-11-2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Bùi Ngọc Thạch. |
| Các Thẩm phán: | Ông Huỳnh Văn Luật; |
| Ông Nguyễn Thanh Tùng. | |
|
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. |
|
|
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Nữ - Kiểm sát viên. |
|
Ngày 05 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2 xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 121/2025/TLPT-HNGĐ ngày 07/10/2025 về việc "ly hôn, tranh chấp nuôi con".
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 11/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 6266/2025/QĐ-PT ngày 22 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Quang A, sinh năm 1970; số căn cước công dân: [...] cấp ngày 03/6/2022; địa chỉ thường trú: Số B, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh); địa chỉ liên lạc: Căn hộ C Chung cư B, Phạm Hữu L, khu phố T, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Bị đơn: Bà Lâm Thị D, sinh năm 1969; số căn cước công dân: [...] cấp ngày 30/10/2023; địa chỉ thường trú: Số B đường số C, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh); địa chỉ liên lạc: Số B đường số C, khu phố T, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Lâm Thị D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Phạm Quang A trình bày: Ông Phạm Quang A và bà Lâm Thị D tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 323/2011 quyển số 04/2011 ngày 25/11/2011. Cuộc sống hạnh phúc được thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do mâu thuẫn về kinh tế; quan điểm về cuộc sống không đồng nhất dẫn đến không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau, thường xuyên cãi vã. Hiện nay, ông A biết bà D có quen biết người đàn ông khác tên H. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2024 cho đến nay, chỉ gặp nhau khi bà D thăm con.
Nay, ông A thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên làm đơn xin ly hôn với ly hôn với bà Lâm Thị D.
- Về con chung: Ông Phạm Quang A và bà Lâm Thị D có 01 con chung tên Phạm Thị Thùy M, sinh ngày 24/9/2011. Sau khi ly hôn, ông A nhận trực tiếp nuôi dưỡng cháu M. Ông A không yêu cầu bà D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông A không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Lâm Thị D trình bày: Bà D thống nhất với lời trình bày của ông Phạm Quang A về quá trình chung sống, con chung, cũng như việc có đăng ký kết hôn. Về mâu thuẫn gia đình thì từ năm 2021 thì do ông A làm ăn thất bại thì vợ chồng có mâu thuẫn, đánh nhau. Ông A đi ra ngoài ăn chơi không quan tâm gia đình. Nay bà D biết ông có quen lại người yêu cũ ở quê. Từ năm 2020 cho đến nay thì thu nhập ai người nấy sử dụng, ông A không chia sẻ về kinh tế trong gia đình. Tuy nhiên, bà D mong muốn có đủ vợ chồng chăm sóc cho con cái và hiện nay ông Quang A bị bệnh và bà D thấy các mâu thuẫn của vợ chồng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ không đủ để dẫn tới ly hôn.
Trước yêu cầu xin ly hôn của ông Quang A thì bà D xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn; đồng thời, nếu ly hôn thì sau này giải quyết các vấn đề về tài sản sẽ gặp khó khăn nên bà D không đồng ý ly hôn.
Quá trình chung sống, bà D và ông Phạm Quang A có 01 con chung tên Phạm Thị Thùy M, sinh ngày 24/9/2011. Trường hợp Toà án giải quyết cho ly hôn thì bà D nhận trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Thùy M. Bà D không yêu cầu ông A thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: bị đơn không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 11/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Quang A đối với bà Lâm Thị D về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Quang A được ly hôn với bà Lâm Thị D (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 323/2011 quyển số 04/2011, do Ủy ban nhân dân phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày ngày 25/11/2011).
-
Về con chung: Bà Lâm Thị D giao con chung tên Phạm Thị Thùy M, sinh ngày 24/9/2011 cho ông Phạm Quang A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phạm Quang A về việc không yêu cầu bà Lâm Thị D cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Phạm Quang A và bà Lâm Thị D đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi án tuyên, ngày 17/7/2025, bị đơn có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm và đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không hoà giải được với nhau và đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký và các đương sự đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, cả hai không còn tin tưởng, quan tâm lẫn nhau, bị đơn không có biện pháp gì để hàn gắn hạnh phúc, tại cấp phúc thẩm bị đơn không có chứng cứ chứng minh khả năng đoàn tụ, ông A vẫn giữ yêu cầu ly hôn với bị đơn, do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: ông A và bà D đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 323/2011 quyển số 04/2011 ngày 25/11/2011. Do phát sinh mâu thuẫn nên ông A làm đơn yêu cầu ly hôn với bà D.
-
Về nội dung kháng cáo:
-
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Lâm Thị D kháng cáo với lý do cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn, mong muốn được đoàn tụ, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phạm Quang A.
Xét thấy, theo hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa, giữa ông A và bà D đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, không còn tin tưởng, tôn trọng và chia sẻ với nhau. Hai bên đã ly thân từ tháng 6/2024 cho đến nay, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà D cho rằng mâu thuẫn chỉ là nhỏ, tuy nhiên chính bà cũng thừa nhận vợ chồng thường xuyên cãi vã, ông A không còn quan tâm, chia sẻ về kinh tế và tình cảm. Tại cấp phúc thẩm, bà D không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh quan hệ hôn nhân giữa hai người có thể hàn gắn, có căn cứ xác định vợ chồng có mâu thuẫn, tình cảm phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân chỉ làm khổ cho cả hai. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho ông A được ly hôn với bà D là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Kháng cáo của bà D không có cơ sở chấp nhận.
- Về con chung: có một con chung là cháu Phạm Thị Thùy M, sinh ngày 24/9/2011. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ quyền lợi của cháu và ghi nhận nguyện vọng của cháu muốn sống với cha là ông Phạm Quang A. Việc giao con cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên. Bà D không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh ông A không đủ điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để thay đổi phần quyết định này.
-
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Lâm Thị D kháng cáo với lý do cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn, mong muốn được đoàn tụ, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phạm Quang A.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề xem xét.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
- Về án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lâm Thị D.
-
Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 11/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Quang A được ly hôn với bà Lâm Thị D (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 323/2011 quyển số 04/2011, do Ủy ban nhân dân phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày ngày 25/11/2011).
-
Về con chung: Bà Lâm Thị D giao con chung tên Phạm Thị Thùy M, sinh ngày 24/9/2011 cho ông Phạm Quang A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phạm Quang A về việc không yêu cầu bà Lâm Thị D cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Phạm Quang A và bà Lâm Thị D đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm: bà Lâm Thị D phải nộp 300.000 đồng và được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004576 ngày 21/7/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 05/11/2025)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Thạch |
Bản án số 178/2025/HNGĐ-PT ngày 05/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 178/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án
